real estate menu left
real estate menu right

Thông tin người dùng

Đăng nhập



Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay101
mod_vvisit_counterHôm qua96
mod_vvisit_counterTuần này300
mod_vvisit_counterTháng này845
mod_vvisit_counterTất cả52919

Thứ hạng của website


Thành viên Online

Hiện có 5 khách Trực tuyến
Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §69-§74] PDF. In Email

IMMANUEL KANT (1724-1804)

CHƯƠNG II

BIỆN CHỨNG PHÁP CỦA NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN MỤC ĐÍCH LUẬN

§69

THẾ NÀO LÀ MỘT NGHỊCH LÝ (ANTINOMIE) CỦA NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN?

Năng lực phán đoán xác định, tự nó, không có các nguyên tắc làm cơ sở cho các khái niệm về những đối tượng. Năng lực ấy không có sự tự trị (Autonomie), vì nó chỉ thâu gồm (subsummiert) dưới các định luật hay các khái niệm đã cho, như là các nguyên tắc. Do đó, nó không bị vướng vào mối nguy hiểm của một nghịch lý (Antinomie) của chính nó hay vướng vào một sự tranh chấp giữa các nguyên tắc của nó.

Cho nên [ta đã thấy rằng] năng lực phán đoán siêu nghiệm – chứa đựng các điều kiện của việc thâu gồm vào dưới các phạm trù – tự nó là không có tính đơn đề (monothetic)* mà chỉ nêu các điều kiện của trực quan cảm tính để, dưới các điều kiện ấy, thực tại (sự áp dụng) có thể được mang lại cho một khái niệm được cho, với tư cách là quy luật của giác tính; và, trong việc này, năng lực phán đoán không bao giờ có thể bị rơi vào sự không nhất trí với chính mình (ít ra trong chừng mực liên quan đến các nguyên tắc của nó).

Trong khi đó, năng lực phán đoán phản tư phải thâu gồm vào dưới một quy luật chưa được mang lại [chưa có sẵn], và, vì thế, trong thực tế, chỉ là một nguyên tắc của sự phản tư về những đối tượng, mà, về mặt khác quan, ta hoàn toàn còn thiếu một quy luật hay một khái niệm về một đối tượng có thể tương ứng hoàn toàn như là một nguyên tắc cho các trường hợp đang xảy ra. Song, vì lẽ các quan năng nhận thức không được phép sử dụng mà không có các nguyên tắc, nên, trong các trường hợp ấy, năng lực phán đoán phản tư phải dùng chính mình làm nguyên tắc. | Nguyên tắc này, vì không có tính khách quan và không thể cung cấp cơ sở nào cho việc nhận thức về đối tượng một cách đầy đủ đúng với ý đồ, nên chỉ phục vụ như là một nguyên tắc đơn thuần chủ quan cho việc sử dụng hợp mục đích các quan năng nhận thức của ta, nghĩa là cho việc phản tư về một loại các đối tượng nào đó. Vì thế, đối với các trường hợp ấy, năng lực phán đoán phản tư có các châm ngôn của mình – và là các châm ngôn tất yếu – hướng đến việc nhận thức các định luật tự nhiên ở trong kinh nghiệm, nhằm nhờ chúng mà vươn đến các khái niệm, cho dù là các khái niệm [thuần lý] của lý tính, bởi nó tuyệt đối cần đến các khái niệm như thế chỉ để nhận thức giới Tự nhiên dựa theo những định luật thường nghiệm của nó mà thôi – giữa các châm ngôn tất yếu này của năng lực phán đoán phản tư có thể có một sự tranh chấp, và, do đó, một nghịch lý làm cơ sở cho một phép biện chứng [lừa bịp]. | Nếu một trong hai châm ngôn này có cơ sở ở trong bản tính tự nhiên của các quan năng nhận thức, ta có thể gọi đó là một phép biện chứng tự nhiên và là một ảo tưởng không thể tránh khỏi mà ta phải phơi bày ra và giải quyết nó ở trong công cuộc phê phán của chúng ta để, kỳ cùng, nó không còn lừa gạt ta nữa.

 

§70

TRÌNH BÀY VỀ NGHỊCH LÝ NÀY

Trong chừng mực lý tính (Vernunft) phải làm việc với giới Tự nhiên xét như tổng thể của những đối tượng của các giác quan bên ngoài, nó có thể, một phần, dựa trên những định luật do bản thân Giác tính (Verstand) đề ra một cách tiên nghiệm (a priori) cho Tự nhiên; phần khác, lại dựa trên những quy luật mà nó [lý tính] có thể mở rộng đến vô định thông qua những sự quy định thường nghiệm xuất hiện ở trong kinh nghiệm. Để áp dụng loại định luật trước, tức những định luật phổ biến về giới Tự nhiên vật chất nói chung, năng lực phán đoán không cần có nguyên tắc phản tư đặc biệt nào cả, vì ở đây, nó có chức năng xác định (bestimmend), bởi lẽ một nguyên tắc khách quan đã được mang lại cho nó thông qua giác tính. Nhưng, liên quan đến những quy luật đặc thù mà ta chỉ có thể biết được bằng kinh nghiệm, thì ở đây có thể có nơi chúng một tính đa tạp và dị loại quá lớn khiến cho năng lực phán đoán phải dùng nguyên tắc của chính mình nhằm nghiên cứu và tìm tòi những hiện tượng của Tự nhiên tương ứng với một quy luật. | Năng lực phán đoán cần đến một manh mối hướng dẫn như thế, nếu muốn có hy vọng đạt được một nhận thức thường nghiệm có sự nối kết nhất quán dựa theo một tính hợp quy luật xuyên suốt, trọn vẹn của Tự nhiên đối với quy luật, cho dù sự thống nhất của Tự nhiên chỉ tuân theo những định luật thường nghiệm. Trong sự thống nhất hay nhất thể bất tất này của những định luật đặc thù, có thể xảy ra tình hình: năng lực phán đoán tiến lên từ hai châm ngôn trong sự phản tư của nó. | Một châm ngôn được mang lại một cách tiên nghiệm từ giác tính đơn thuần, còn châm ngôn kia là do những kinh nghiệm đặc thù đẩy lý tính vào cuộc nhằm hình thành một phán đoán về giới Tự nhiên vật thể cùng với những định luật của nó dựa theo một nguyên tắc đặc thù. Điều này dẫn tới chỗ hai loại châm ngôn này dường như không thể cộng tồn bên cạnh nhau; và do đó, nảy sinh một phép biện chứng dẫn dắt năng lực phán đoán vào con đường lầm lạc trong nguyên tắc của sự phản tư của nó.

Châm ngôn thứ nhất của năng lực phán đoán là mệnh đề: phải phán đoán rằng: mọi việc tạo ra những sự vật vật chất và những hình thức của chúng là chỉ có thể có được dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới.

Châm ngôn thứ hai phản-mệnh đề: không thể phán đoán rằng: một số sản phẩm của giới Tự nhiên vật chất là có thể có được dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới. (Muốn phán đoán về chúng, cần có một tính nhân quả hoàn toàn khác, đó là, tính nhân quả của những nguyên nhân mục đích).

Vậy, nếu các nguyên tắc có tính điều hành (regulativ) trên đây trong việc nghiên cứu bị đảo ngược thành những nguyên tắc có tính cấu tạo (konstitutiv) về khả thể của những đối tượng, chúng sẽ có dạng sau đây:

Mệnh đề [Chính đề]: Mọi việc tạo ra những sự vật vật chất là có thể có được dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới.

Phản-mệnh đề [Phản đề]: Một số việc tạo ra những sự vật vật chất là không thể có được dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới.

Hai mệnh đề tương phản này, xét như các nguyên tắc khách quan cho năng lực phán đoán xác định, ắt sẽ mâu thuẫn với nhau, và, do đó, một trong hai nhất định phải sai. Đúng là, trong trường hợp đó, ta có một nghịch lý (Antinomie) nhưng không phải của năng lực phán đoán mà là một sự xung đột trong việc ban bố quy luật của lý tính. Nhưng, lý tính không thể chứng minh nguyên tắc này lẫn nguyên tắc kia, vì ta không thể có nguyên tắc có tính xác định nào về khả thể của những sự vật dựa theo những định luật đơn thuần thường nghiệm của Tự nhiên một cách tiên nghiệm được cả.

Ngược lại, xét các châm ngôn nêu trên đây của năng lực phán đoán phản tư, chúng lại không chứa đựng một mâu thuẫn nào hết. Bởi nếu tôi nói: tôi phải phán đoán về khả thể của mọi sự kiện trong giới Tự nhiên vật chất chỉ dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới, và, do đó, về mọi hình thức xét như những sản phẩm của nó, tôi không hề muốn nói rằng: chúng chỉ có thể có trong cách này mà thôi (loại trừ bất kỳ tính nhân quả nào khác), trái lại, tôi chỉ muốn lưu ý rằng: tôi lúc nào cũng phải phản tư về chúng dựa theo nguyên tắc về cơ chế máy móc của Tự nhiên, và, do đó, nghiên cứu cơ chế này trong mức độ có thể làm được, vì, nếu tôi không lấy nó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thì không thể có tri thức nào về Tự nhiên được cả. Nhưng, điều này lại không hề ngăn cản tôi, khi có cơ hội, hướng theo châm ngôn thứ hai trong trường hợp của một số hình thức tự nhiên nào đó (và kể cả đối với toàn bộ giới Tự nhiên) để phản tư về chúng dựa theo nguyên tắc về các nguyên nhân mục đích; nguyên tắc này là cái gì hoàn toàn khác với việc giải thích chúng dựa theo cơ chế [máy móc] của Tự nhiên. Như thế, sự phản tư dựa theo châm ngôn thứ nhất không vì thế mà bị phế bỏ, tóm lại, ta buộc phải theo nó trong mức độ ta có thể làm được và cũng không có nghĩa là những hình thức này là không thể có được dựa theo cơ chế của Tự nhiên. Ta chỉ khẳng định rằng: lý tính con người, nếu [chỉ] tuân theo châm ngôn này và bằng cách này, ắt sẽ không bao giờ tìm ra được cơ sở tối hậu cho những gì tạo nên đặc điểm của một mục đích tự nhiên, mặc dù nó vẫn tăng tiến các nhận thức khác về những định luật tự nhiên. | Ở đây vẫn còn bỏ ngỏ và không quyết định xem ở trong cơ sở nội tại của Tự nhiên mà ta không biết được, sự nối kết vật lý-cơ giới và sự nối kết mục đích có thể hợp nhất được nơi cùng một sự vật trong một nguyên tắc [chung] hay không. | Ta chỉ nói rằng lý tính của ta không có năng lực để hợp nhất chúng lại, và, vì thế, năng lực phán đoán phản tư (từ các cơ sở chủ quan) chứ không phải xác định (theo một nguyên tắc khách quan về khả thể của những vật-tự thân) buộc phải suy tưởng một nguyên tắc khác với nguyên tắc về cơ chế tự nhiên như là cơ sở cho khả thể của một số hình thức nào đó trong Tự nhiên.

 

§71

CHUẨN BỊ SƠ BỘ ĐỂ GIẢI QUYẾT NGHỊCH LÝ (ANTINOMIE) TRÊN ĐÂY

Ta không có cách nào chứng minh được sự bất khả của việc tạo ra những sản phẩm tự nhiên có tổ chức [hữu cơ] bằng cơ chế [máy móc] đơn thuần của Tự nhiên, vì ta không thể nhìn ra được cơ sở nội tại đầu tiên của sự đa tạp vô tận của những định luật tự nhiên đặc thù vốn là bất tất đối với ta bởi chúng chỉ được ta biết một cách thường nghiệm; và, do đó, ta không thể nào đạt đến nguyên tắc nội tại, hoàn toàn đầy đủ về khả thể của một giới tự nhiên được cả (nguyên tắc ấy như thế vốn nằm trong cái Siêu-cảm tính). Cho nên, câu hỏi sau đây là câu hỏi mà lý tính của ta – vốn bị giới hạn chật hẹp trong những gì liên quan đến khái niệm về tính nhân quả nếu phải xác định nó một cách tiên nghiệm – không thể nào giải đáp được: phải chăng năng lực tác tạo của Tự nhiên là đầy đủ vừa cho những gì được ta xem là hình thành hay kết hợp phù hợp với ý tưởng về các mục đích, vừa cho những gì được ta tin rằng chỉ cần đến “hệ thống đơn thuần máy móc” (Maschinen-wesen) của Tự nhiên; hoặc: phải chăng bên dưới những gì chúng ta nhất thiết phải xem như là những mục đích tự nhiên đích thực có một loại tính nhân quả căn nguyên hoàn toàn khác làm cơ sở cho vạn vật vốn không nằm trong giới Tự nhiên vật chất lẫn trong cái cơ chất khả niệm của nó, tức phải chăng có một Trí tuệ cấu trúc (architektonischer Verstand)? – Nhưng, điều rất rõ ràng và không thể nghi ngờ là: đối với các quan năng nhận thức của ta, cơ chế [máy móc] đơn thuần của Tự nhiên cũng không thể cung cấp cơ sở để giải thích cho việc tạo ra những thực thể có tổ chức. Vì thế, đối với năng lực phán đoán phản tư, mệnh đề hoàn toàn đúng đắn là: trước sự nối kết rõ ràng giữa những sự vật dựa theo các nguyên nhân mục đích, buộc phải suy tưởng về một tính nhân quả khác với tính nhân quả của cơ chế máy móc, nghĩa là, về một nguyên nhân (trí tuệ) của thế giới hoạt động phù hợp với những mục đích, cho dù mệnh đề ấy là quá vội vã và không thể chứng minh được đối với năng lực phán đoán xác định. Trong trường hợp trước [đối với năng lực phán đoán phản tư], mệnh đề ấy chỉ là một châm ngôn đơn thuần của năng lực phán đoán, nơi đó khái niệm về tính nhân quả như thế chỉ là một ý tưởng đơn thuần mà ta tuyệt nhiên không thể ban cho nó tính thực tại (Realität), trái lại, chỉ dùng nó như một manh mối định hướng cho sự phản tư vốn bao giờ cũng mở ngỏ trước mọi cơ sở lý giải theo cơ chế tự nhiên và không được thoát ly khỏi thế giới cảm tính. | Trong trường hợp sau [đối với năng lực phán đoán xác định], mệnh đề ấy hóa ra là một nguyên tắc khách quan do lý tính đề ra để buộc bản thân năng lực phán đoán xác định phải phục tùng, mà như thế thì năng lực phán đoán đã thoát ly khỏi thế giới cảm tính để bước vào cái Siêu việt và có lẽ sẽ bị dẫn dắt vào chỗ lầm lạc.

 

§72

VỀ CÁC HỆ THỐNG KHÁC NHAU LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH CỦA TỰ NHIÊN

Không ai còn nghi ngờ về sự đúng đắn của mệnh đề cho rằng: đối với một số sự vật của Tự nhiên (những thực thể có tổ chức) và khả thể của chúng, ta phải phán đoán dựa theo khái niệm về các nguyên nhân mục đích, cho dù ta chỉ muốn có một manh mối hướng dẫn để học cách nhận thức về đặc điểm cấu tạo của chúng thông qua sự quan sát chứ không hề mong mỏi vươn lên đến nguồn gốc căn nguyên đầu tiên của chúng. Cho nên, câu hỏi chỉ có thể là: phải chăng mệnh đề cơ bản này chỉ đơn thuần có giá trị một cách chủ quan, nghĩa là, chỉ là một châm ngôn đơn thuần của năng lực phán đoán của ta; hoặc: phải chăng đó là một nguyên tắc khách quan của Tự nhiên, theo đó, ngoài cơ chế [máy móc] (dựa theo những định luật đơn thuần của sự vận động), có một loại tính nhân quả hoàn toàn khác gắn liền với Tự nhiên, tức tính nhân quả của những nguyên nhân mục đích, còn những định luật (của các lực vận động) chỉ giữ vai trò như những nguyên nhân trung gian (Mittelursachen) mà thôi.

Trước đây, ta đã phải để câu hỏi hay vấn đề đặt ra cho sự tư biện này hoàn toàn không được quyết định và không được giải quyết, vì lẽ nếu ta chịu hài lòng với sự tư biện bên trong các ranh giới của nhận thức tự nhiên đơn thuần, ta có đủ các châm ngôn nói trên để nghiên cứu về Tự nhiên và khám phá những bí mật còn ẩn giấu của nó trong chừng mực các năng lực của con người có thể vươn đến được. Hẳn nhiên, khi làm như thế, ta vẫn có ở đây một dự cảm nào đó của lý tính chúng ta hay một dấu hiệu do Tự nhiên mang lại, cho thấy rằng, dựa vào khái niệm này về những mục đích tự nhiên, ta đi ra bên ngoài Tự nhiên và có thể hợp nhất nó về một điểm tối cao trong chuỗi những nguyên nhân, nếu ta thử từ bỏ hay ít ra, thử tạm gác sự nghiên cứu về Tự nhiên (cho dù ta chưa thực sự có bước tiến khá xa trong việc này) để, trước đó, thử tìm ra khái niệm về những mục đích tự nhiên, tức, để thử xem yếu tố xa lạ này sẽ dẫn ta đi xa đến đâu ở trong khoa học tự nhiên.

Còn ở đây, các châm ngôn không có gì đáng tranh cãi ấy lại chuyển thành những vấn đề, mở ra một lĩnh vực rất rộng cho các cuộc tranh cãi rất nan giải. | Đó là: phải chăng sự nối kết về mục đích ở trong Tự nhiên chứng minh sự tồn tại của một loại nhân quả đặc thù? Hoặc phải chăng tính nhân quả ấy, xét trong chính nó và tương ứng với các nguyên tắc về mục đích, cũng tương tự như cơ chế máy móc của Tự nhiên hay dựa trên một và cùng một cơ sở giống nhau? | Và chỉ vì, trong nhiều sản phẩm tự nhiên, cơ sở này thường ẩn mình quá sâu đối với sự tìm tòi của ta, nên ta thử cố gắng đề ra một nguyên tắc chủ quan, tức nguyên tắc về “nghệ thuật” (Kunst), nghĩa là về tính nhân quả dựa theo các Ý niệm và ta gán nguyên tắc này vào cho giới Tự nhiên bằng phép tương tự (Analogie) [loại suy]. | Cách làm bất đắc dĩ này nhiều khi giúp ta thành công và có khi khiến ta thất bại, nhưng, trong mọi trường hợp, đều không cho phép ta du nhập một cách chính đáng vào trong khoa học tự nhiên một loại tác động hoàn toàn khác với tính nhân quả dựa theo những định luật đơn thuần cơ giới của Tự nhiên. Ta thử dùng tên gọi: “kỹ thuật” (Technik) để chỉ phương thức (tính nhân quả) của Tự nhiên dựa trên vẻ tương tự với “mục đích” mà ta tìm thấy trong những sản phẩm của nó; và ta chia “kỹ thuật” này ra làm hai loại: “kỹ thuật hữu ý” (technica intentionalis) “kỹ thuật vô ý” (technica naturalis). Cái trước có nghĩa là: năng lực tác tạo của Tự nhiên dựa theo các nguyên nhân mục đích phải được xem như là một loại đặc thù của tính nhân quả; còn cái sau có nghĩa là: về căn bản, nó giống hệt [hay chính là một] với cơ chế [máy móc] của Tự nhiên và sự trùng hợp ngẫu nhiên của nó với các khái niệm “nghệ thuật” [nhân tạo] của ta cùng với những quy tắc của chúng phải được lý giải như là điều kiện đơn thuần chủ quan trong việc phán đoán về nó và đã xem nó một cách sai lầm như là một loại đặc thù của việc tác tạo tự nhiên.

Vậy, bây giờ nếu ta bàn về các hệ thống [triết học] nhằm giải thích Tự nhiên dựa theo những nguyên nhân mục đích của nó, ta cần lưu ý rằng chúng đối nghịch nhau nhưng đều theo kiểu “giáo điều” cả, nghĩa là tranh cãi nhau về các nguyên tắc khách quan đối với khả thể của những sự vật, tức cãi nhau xem chúng là hữu ý hay vô ý, chứ không tranh cãi nhau về châm ngôn chủ quan được ta dùng để đơn thuần phán đoán [phản tư] về các nguyên nhân của những sản phẩm hợp mục đích ấy. | Ta biết rằng, trong trường hợp sau, các nguyên tắc [châm ngôn] khác biệt nhau (disparat) hoàn toàn có thể hợp nhất lại với nhau, còn trong trường hợp trước, các nguyên tắc đối lập-mâu thuẫn (kontradiktorisch-entgegengesetzt) nhất định phải thủ tiêu nhau và không thể cùng tồn tại bên nhau được.

Các hệ thống bàn về “kỹ thuật” của Tự nhiên, tức về năng lực tác tạo của nó dựa theo quy tắc của các mục đích, có hai loại: thuyết duy tâmthuyết duy thực về những mục đích tự nhiên. Thuyết duy tâm là sự khẳng định rằng mọi tính hợp mục đích của Tự nhiên đều là vô-ý (unabsichtlich); còn thuyết duy thực cho rằng một số (trong những thực thể có tổ chức) là hữu ý (absichtlich). | Từ thuyết duy thực có thể rút ra hệ luận có tính giả thiết rằng kỹ thuật của Tự nhiên – xét mọi sản phẩm khác của nó trong quan hệ với cái toàn bộ Tự nhiên – là hữu ý, tức, là một mục đích.

1. Thuyết duy tâm về tính hợp mục đích (ở đây, tôi luôn hiểu là tính hợp mục đích khách quan) thì hoặc là thuyết duy tâm về tính ngẫu nhiên (Kasualität) hoặc về tính tiền định (Fatalität) của sự quy định của Tự nhiên trong hình thức hợp mục đích của những sản phẩm của nó. Nguyên tắc trước liên quan đến mối quan hệ của chất liệu với cơ sở vật lý của hình thức của chất liệu, tức các quy luật về sự vận động, còn nguyên tắc sau là quan hệ với cơ sở siêu-vật lý (hyper-physisch) của bản thân nó và của toàn bộ giới Tự nhiên. Hệ thống [duy tâm] về tính ngẫu nhiên được quy cho Epikur* hay Democritus**, nhưng xét theo nghĩa đen của từ này thì việc quy ấy rõ ràng là phi lý nên ta không nên giữ lại. | Ngược lại, hệ thống [duy tâm] về tính tiền định (Spinoza*** được xem là tác giả, mặc dù hình như xưa hơn rất nhiều) viện dẫn đến một cái gì Siêu-cảm tính mà nhận thức của ta không vươn đến nổi nên không dễ bác bỏ; và sở dĩ như thế vì khái niệm của thuyết ấy về Hữu thể nguyên thủy là không thể nào hiểu được. Tuy nhiên, điều rõ ràng là: theo thuyết này, sự nối kết có tính mục đích trong thế giới phải được xem như là vô-ý (vì, dù được suy ra từ một Hữu thể căn nguyên, nhưng không phải từ trí tuệ của Hữu thể này hay từ bất kỳ ý đồ nào về phía Hữu thể ấy mà đúng ra là từ tính tất yếu của bản tính của Hữu thể căn nguyên và của sự nhất thể của thế giới bắt nguồn từ đó). | Cho nên, thuyết tiền định về tính hợp mục đích đồng thời là một thuyết duy tâm.

2. Thuyết duy thực về tính hợp mục đích của Tự nhiên cũng có hai dạng: vật lý hoặc siêu-vật lý. Phái trước – dựa theo sự tương tự (Analogon) của một quan năng hành động theo ý đồ – đặt cơ sở cho những mục đích ở trong Tự nhiên trên sự sống của vật chất (của bản thân vật chất hoặc của sự sống của một nguyên tắc nội tại ở trong vật chất, gọi là một “linh hồn thế giới”/Weltseele), nên có tên là thuyết vật hoạt (Hylo-zoism). Phái sau suy ra những mục đích từ cơ sở uyên nguyên của vũ trụ như từ một Hữu thể có trí tuệ (có sự sống một cách nguyên thủy) đã tạo ra chúng với ý đồ; và đó chính là thuyết [duy] Thần luận (Theismus)[1](1).

 

§73

KHÔNG HỆ THỐNG NÀO TRONG SỐ KỂ TRÊN LÀM ĐƯỢC ĐIỀU NÓ HỨA HẸN

Tất cả các hệ thống trên đây mong muốn điều gì? Chúng đều muốn giải thích các phán đoán mục đích luận của ta về giới Tự nhiên; và, khi bắt tay vào việc, thì một bên lại phủ nhận chân lý của các phán đoán ấy, nên cho rằng chúng là một thuyết duy tâm về Tự nhiên (tức đã hình dung Tự nhiên như “nghệ thuật” tác tạo); còn bên khác lại thừa nhận các phán đoán ấy là đúng sự thật, và hứa hẹn rằng có thể chứng minh khả thể của một giới Tự nhiên dựa theo ý tưởng về những nguyên nhân mục đích [tức phái duy thực].

1. Các hệ thống bảo vệ cho thuyết duy tâm về những nguyên nhân mục đích ở trong Tự nhiên một mặt thừa nhận nguyên tắc về một tính nhân quả tương ứng với các định luật của sự vận động (nhờ tính nhân quả ấy, những sự vật tự nhiên mới tồn tại một cách hợp mục đích), nhưng [mặt khác] lại phủ nhận tính ý đồ (Intentionalität) nơi quan hệ nhân quả ấy, nghĩa là, phủ nhận rằng tính nhân quả tự quy định chính mình một cách hữu ý trong việc tác tạo hợp mục đích của nó, hay, nói cách khác, phủ nhận rằng nguyên nhân ở đây là một mục đích. Đó là cách giải thích của Epikur, theo đó, bất kỳ sự phân biệt nào giữa một “kỹ thuật” của Tự nhiên với cơ chế [máy móc] đơn thuần đều hoàn toàn bị phủ nhận. | Sự ngẫu nhiên mù quáng được dùng làm cơ sở giải thích không chỉ cho sự trùng hợp giữa những sản phẩm đã phát triển [của Tự nhiên] với các khái niệm của ta về mục đích, và, do đó, cho “kỹ thuật” [của Tự nhiên], mà còn cho cả sự quy định của những nguyên nhân của sự tác tạo này dựa theo những định luật của sự vận động, và, do đó, cho cơ chế [máy móc] của chúng. | Như thế, không có gì là được giải thích cả, càng không giải thích được ảo tượng trong những phán đoán mục đích luận của ta, và, do đó, thuyết gọi là duy tâm này về năng lực phán đoán không hề được thiết lập.

Về phía khác, Spinoza lại muốn xóa bỏ mọi tìm tòi của ta về cơ sở cho khả thể của những mục đích của Tự nhiên và tước đi mọi tính thực tại của ý tưởng này bằng cách không xem Tự nhiên nói chung là những sản phẩm mà là những tùy thể (Akzidenzen) phụ thuộc vào một Hữu thể-nguyên thủy (Urwesen), và gán cho Hữu thể này, – với tư cách là cơ chất của những sự vật tự nhiên nói trên – không phải tính nhân quả đối với chúng mà chỉ đơn thuần như là Bản thể (Subsistenz) mà thôi. | Nhờ việc nhấn mạnh đến tính tất yếu-vô điều kiện của Bản thể [làm cơ chất] này, và, do đó, đến tính tất yếu của mọi sự vật tự nhiên như là những tùy thể phụ thuộc vào Bản thể ấy, quả Spinoza đã đảm bảo cho những hình thức của Tự nhiên sự thống nhất về cơ sở vốn là điều cần có cho mọi tính hợp mục đích, nhưng, đồng thời, ông tước bỏ tính bất tất [nghĩa là: tính có thể không tồn tại] của những sự vật tự nhiên, mà không có điều này thì sự thống nhất về mục đích không thể suy tưởng được, và, cùng với nó, tước bỏ luôn mọi ý đồ cũng như mọi trí tuệ ra khỏi cơ sở nguyên thủy của những sự vật tự nhiên.

Nhưng, như thế, thuyết Spinoza không làm được điều nó muốn. Thuyết ấy muốn mang lại một cơ sở giải thích cho việc nối kết về mục đích (mà nó không phủ nhận) giữa những sự vật trong Tự nhiên, song chỉ đơn thuần nêu được sự thống nhất của Chủ thể mà mọi sự vật đều lệ thuộc vào như những tùy thể. Tuy nhiên, cho dù ta tán thành với thuyết ấy về phương thức tồn tại như thế của những hữu thể của thế giới, thì sự thống nhất bản thể học ấy cũng không lập tức trở thành sự thống nhất về mục đích và tuyệt nhiên không làm cho ta hiểu được chút nào về sự thống nhất này. Bởi, sự thống nhất về mục đích là một loại hoàn toàn đặc thù, không thể được suy ra từ sự nối kết giữa những hữu thể trong thế giới (Weltwesen) ở trong một Chủ thể (Bản thể nguyên thủy/Urwesen), mà phải là mối quan hệ với một nguyên nhân (Ursache) trí tuệ; và cho dù ta hợp nhất mọi sự vật này vào trong một Chủ thể đơn giản, điều này vẫn không bao giờ cho thấy được một mối quan hệ về mục đích. | Bởi lẽ, thứ nhất, ta không suy tưởng về chúng như là những kết quả nội tại của Bản thể như thể Bản thể này là một nguyên nhân; và, thứ hai, không suy tưởng về nguyên nhân này như là một nguyên nhân sản sinh ra những kết quả nhờ vào trí tuệ của mình. Không có các điều kiện hình thức này, mọi sự thống nhất chỉ là sự tất yếu tự nhiên đơn thuần, và, như là sự tất yếu mù quáng nếu nó được gán cho những sự vật được ta hình dung như là ở bên ngoài nhau. Còn nếu ta muốn ban danh hiệu “tính hợp mục đích của Tự nhiên” cho cái được trường phái này gọi là “sự hoàn hảo cơ bản”* của những sự vật (xét theo sự hiện hữu riêng của chúng), theo đó bất kỳ sự vật nào cũng có trong bản thân nó điều cần thiết để làm cho nó trở thành sự vật này chứ không phải sự vật khác, thì chỉ là một trò chơi chữ ấu trĩ thay vì làm việc với những khái niệm. Bởi vì, nếu giả sử mọi sự vật đều phải được suy tưởng như là những mục đích, thì tồn tại như là một sự vật cũng có nghĩa là tồn tại như một mục đích; điều này, xét đến cùng, chẳng có điểm gì riêng để đáng được hình dung như là một mục đích cả.

Từ đó, ta thấy ngay rằng, khi quy giảm các khái niệm của ta về cái hợp mục đích ở trong Tự nhiên vào ý thức của bản thân ta về một Hữu thể (đơn giản) bao trùm tất cả và khi đi tìm hình thức này đơn thuần ở trong sự thống nhất hay nhất thể của Hữu thể ấy, Spinoza không có ý bảo vệ thuyết duy thực mà bảo vệ thuyết duy tâm về tính hợp mục đích của Hữu thể nguyên thủy. Nhưng, ngay điều này, Spinoza cũng đã không thể thực hiện được, vì lẽ sự hình dung đơn thuần về sự thống nhất hay nhất thể của cái cơ chất không thể mang lại ý tưởng về một tính hợp mục đích, kể cả về một tính hợp mục đích nhưng không có ý đồ.

2. Đối với những người không chỉ chủ trương thuyết duy thực về những mục đích tự nhiên mà còn có tham vọng giải thích nó, họ tin rằng mình có thể thấu hiểu được, chí ít là về khả thể, một loại tính nhân quả đặc thù, tức, tính nhân quả hành động một cách hữu ý, bởi nếu không tin như thế, họ đã không thể ra sức mang lại sự giải thích này. Lý do thật dễ hiểu: để cho phép có được một giả thuyết liều lĩnh nhất thì chí ít cũng phải xác tín về khả thể của điều được lấy làm nền tảng cho giả thuyết và ta phải có khả năng đảm bảo tính thực tại khách quan cho khái niệm về nó.

Thế nhưng, ta tuyệt nhiên không thể nào suy tưởng được về khả thể của vật chất có sự sống: khái niệm này vấp phải một sự mâu thuẫn, bởi tính không có sự sống, hay “inertia” (nọa tính hay quán tính) tạo nên đặc tính cơ bản của vật chất. Khả thể của vật chất được phú cho sự sống và khả thể của Toàn bộ giới Tự nhiên được xem như một sinh vật chỉ có thể được sử dụng một cách hạn hẹp (nhằm đề ra giả thuyết về tính hợp mục đích trong toàn bộ giới Tự nhiên), trong chừng mực khả thể ấy thể hiện ra ở trong kinh nghiệm về sự tổ chức của Tự nhiên trong phạm vi nhỏ bé, chứ ta không thể nào thấu hiểu khả thể ấy một cách tiên nghiệm (a priori) được. Ta nhất định rơi vào vòng lẩn quẩn trong việc giải thích, nếu ta muốn rút ra tính hợp mục đích của Tự nhiên trong những vật thể có tổ chức từ sự sống của vật chất, trong khi ta chỉ biết về sự sống này ở trong những sinh vật hữu cơ mà thôi, và, không thể hình thành khái niệm nào về khả thể của nó mà không có kinh nghiệm về loại này. Do đó, thuyết vật hoạt không mang lại được điều nó hứa hẹn.

Sau cùng, thuyết Thần luận cũng không thể thiết lập được khả thể của những mục đích tự nhiên như là chìa khóa cho môn Mục đích luận một cách giáo điều, mặc dù so với tất cả các cơ sở giải thích khác, nó có ưu thế là tìm ra cách tốt nhất để cứu vãn tính hợp mục đích của Tự nhiên ra khỏi thuyết duy tâm và du nhập một tính nhân quả hành động hữu ý trong việc tác tạo nhờ vào “trí tuệ” được nó gán cho Hữu thể căn nguyên.

Thế nhưng, trước tiên ta phải chứng minh một cách thỏa đáng trước năng lực phán đoán xác định về sự bất khả của sự thống nhất về mục đích ở trong vật chất nếu chỉ suy ra từ cơ chế đơn thuần máy móc của nó, trước khi ta được phép chính đáng là đặt cơ sở của nó ở phía bên kia Tự nhiên cũng bằng một cách xác định. Song, ta không thể nào đi xa được đến mức ấy. | Tương ứng với đặc tính cấu tạo và các giới hạn của các quan năng nhận thức của ta (ngay cả cơ sở nội tại sơ thủy của cơ chế máy móc, ta cũng không thấu hiểu nổi), ta tuyệt nhiên không có cách nào đi tìm được trong vật chất một nguyên tắc về các mối quan hệ mục đích có tính xác định, ngoài cách phán đoán về việc sản sinh ra những sản phẩm của nó như là những mục đích tự nhiên nhờ vào một “Trí tuệ tối cao” như là nguyên nhân của thế giới. Nhưng, đó chỉ là một cơ sở cho năng lực phán đoán phản tư chứ không phải cho năng lực phán đoán xác định và tuyệt nhiên không thể biện minh cho bất kỳ một khẳng quyết khách quan nào cả.

 

§74

LÝ DO KHIẾN TA KHÔNG THỂ XỬ LÝ MỘT CÁCH GIÁO ĐIỀU ĐỐI VỚI KHÁI NIỆM VỀ “MỘT KỸ THUẬT CỦA TỰ NHIÊN” LÀ VÌ: MỘT MỤC ĐÍCH TỰ NHIÊN LÀ KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH ĐƯỢC

Ta xử lý một khái niệm (ngay cả khi khái niệm ấy là có-điều kiện thường nghiệm) một cách giáo điều, khi ta xem nó như là được chứa đựng bên dưới một khái niệm khác về đối tượng và khái niệm ấy tạo nên một nguyên tắc của lý tính* và xác định nó tương ứng với nguyên tắc này. Còn ta làm việc với nó đơn thuần một cách phê phán, khi ta chỉ xem xét nó trong quan hệ quy chiếu với các quan năng nhận thức của ta và, do đó, với các điều kiện chủ quan để suy tưởng về nó mà không tìm cách quyết định điều gì cả về đối tượng của khái niệm. Như thế, phương pháp xử lý giáo điều với một khái niệm là phương pháp hợp quy luật dành cho năng lực phán đoán xác định, còn phương pháp phê phán là hợp quy luật dành cho năng lực phán đoán phản tư.

Bây giờ, [ta thấy] khái niệm về một sự vật như là mục đích tự nhiên là một khái niệm thâu gồm (subsummiert) Tự nhiên vào dưới một tính nhân quả chỉ có thể suy tưởng được bằng lý tính mà thôi, để, dựa theo nguyên tắc ấy, phán đoán về một đối tượng được mang lại ở trong kinh nghiệm. Nhưng, để sử dụng nó một cách giáo điều cho năng lực phán đoán xác định, trước tiên, ta phải được đảm bảo về tính thực tại khách quan của khái niệm này đã, bởi nếu không, ta không thể thâu gồm bất kỳ sự vật tự nhiên nào vào dưới nó được cả. Lại nữa, khái niệm về một sự vật như là về một mục đích tự nhiên tuy là có-điều kiện một cách thường nghiệm, nghĩa là, chỉ có thể có được dưới một số điều kiện nhất định nào đó được mang lại ở trong kinh nghiệm, mặc dù khái niệm ấy không hề được rút ra từ kinh nghiệm mà là một khái niệm chỉ có thể có được là nhờ tương ứng với một nguyên tắc lý tính trong việc phán đoán về đối tượng. Cho nên, tính thực tại khách quan của nó (tức cho rằng một đối tượng phù hợp với nguyên tắc ấy là có thể có được) không thể được nhận thức và thiết lập như một nguyên tắc một cách giáo điều; và, ta không biết liệu đây chỉ là một khái niệm ngụy biện và trống rỗng về mặt khách quan (lat: conceptus ratiocinans) hay là một khái niệm lý tính, thiết lập nên nhận thức và được lý tính xác nhận (lat: conceptus ratiocinatus)*. Vì thế, nó không thể được xử lý một cách giáo điều dành cho năng lực phán đoán xác định, nghĩa là: nó không chỉ không thể quyết định phải chăng những sự vật của Tự nhiên – được xét như những mục đích tự nhiên – có cần một tính nhân quả thuộc loại đặc biệt (tức hành động hữu ý) để chúng được tạo ra hay không, mà thậm chí không thể đặt ra câu hỏi ấy được, vì lẽ khái niệm về một mục đích tự nhiên tuyệt nhiên không thể được chứng minh về tính thực tại khách quan bằng lý tính (nói khác đi, nó không có tính cấu tạo cho năng lực phán đoán xác định mà chỉ có tính điều hành cho năng lực phán đoán phản tư mà thôi).

Điều này rõ ràng là không thể chứng minh được, bởi vì (với tư cách là khái niệm về một sản phẩm tự nhiên), nó vừa bao hàm trong chính nó tính tất yếu tự nhiên và, đồng thời, (với tư cách là mục đích) một tính bất tất về hình thức của đối tượng (trong quan hệ với những định luật đơn thuần của Tự nhiên) ngay trong cùng một sự vật. | Do đó, để không gặp mâu thuẫn ở đây, nó vừa phải chứa đựng cơ sở cho khả thể của sự vật trong Tự nhiên, vừa chứa đựng cơ sở cho khả thể của bản thân giới Tự nhiên này và cho mối quan hệ của Tự nhiên với một giới Tự nhiên (Siêu-cảm tính) không thể nhận thức được một cách thường nghiệm, và điều ấy là tuyệt nhiên không thể nhận thức được đối với ta. | [Nhưng, cả hai cơ sở khả thể] là cần phải có nếu nó được phán đoán dựa theo một kiểu tính nhân quả khác hẳn với tính nhân quả của cơ chế tự nhiên, khi ta muốn xác lập khả thể của nó. Vậy, khái niệm về một sự vật – xét như một mục đích tự nhiên – là siêu việt (transzendent) đối với năng lực phán đoán xác định, nếu ta xem xét đối tượng bằng lý tính (mặc dù đối với năng lực phán đoán phản tư, nó hoàn toàn có thể là nội tại (immanent) trong quan hệ với những đối tượng của kinh nghiệm). | Đối với những phán đoán xác định, ta không thể nào mang lại tính thực tại khách quan cho khái niệm ấy được, vì thế dễ hiểu tại sao mọi hệ thống [triết học] – nhằm xử lý một cách giáo điều đối với khái niệm về những mục đích tự nhiên và về bản thân giới Tự nhiên xét như một toàn bộ được nối kết lại với nhau nhờ vào những nguyên nhân mục đích – đều không thể quyết định điều gì được cả, dù bằng sự khẳng định khách quan hay bằng sự phủ nhận khách quan. | Bởi vì, nếu những sự vật được thâu gồm vào dưới một khái niệm chỉ đơn thuần có tính nghi vấn, thì những thuộc từ tổng hợp của nó (chẳng hạn ở đây là: phải chăng mục đích của Tự nhiên được ta suy tưởng cho sự sản sinh ra sự vật là hữu ý hay vô ý) cũng chỉ có thể mang lại những phán đoán (nghi vấn) về đối tượng, tức không biết phải khẳng định hay phủ nhận chúng; và ta không hề biết ta đang phán đoán về một điều gì hay chẳng về một điều gì cả. Khái niệm về một tính nhân quả thông qua các mục đích (của “nghệ thuật”) tất nhiên có tính thực tại khách quan cũng giống như khái niệm về một tính nhân quả dựa theo cơ chế [máy móc] của Tự nhiên. Thế nhưng, khái niệm về một tính nhân quả của Tự nhiên dựa theo quy tắc của những mục đích, – huống hồ khái niệm về một Hữu thể vốn không thể được mang lại cho ta ở trong kinh nghiệm mà lại là nguyên nhân nguyên thủy của giới Tự nhiên – thì tuy có thể được suy tưởng mà không có sự mâu thuẫn gì, nhưng không thể thích dụng cho các quy định có tính giáo điều. | Vì lẽ khái niệm ấy không thể được rút ra từ kinh nghiệm, và, do đó, không cần thiết đối với khả thể của kinh nghiệm, nên tính thực tại khách quan của nó tuyệt nhiên không hề được đảm bảo. Nhưng cho dù điều này có thể làm được đi nữa thì thử hỏi làm sao tôi có thể kể những sự vật được xem là sản phẩm của “nghệ thuật thần linh” ấy vào hàng ngũ những sự vật tự nhiên được, một khi chính sự bất lực của Tự nhiên để tạo ra những sự vật này dựa theo những định luật của riêng nó đã buộc nó phải cầu viện tới một nguyên nhân khác hẳn với nó?

(còn tiếp)

Bùi Văn Nam Sơn dịch

Nguồn: Immanuel Kant. Phê phán năng lực phán đoán (Mỹ học và Mục đích luận). Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà  Nội: Nxb. Tri Thức, 2006.

 



* “monothetic”: tạo thành một phía của nghịch đề (Antithetik) trong một nghịch lý (Antinomie). (N.D).

* Epikur (342-271 tr. TL).

** Democritus (460-370 tr. TL)

*** Spinoza (1632-1677)

[1] Từ đó, ta thấy rằng: trong hầu hết những sản phẩm tư biện của lý tính thuần túy, xét như những khẳng quyết giáo điều, các trường phái triết học đều đã thử hết mọi giải pháp khả hữu cho vấn đề được đặt ra. Để giải thích tính hợp mục đích của Tự nhiên, người ta đã cố hình dung ra vật chất không có sự sống hay Thượng đế không có sự sống, rồi vật chất có sự sống hay Thượng đế có sự sống. Vậy, ta chỉ còn có cách duy nhất là, nếu cần thiết, vứt bỏ hết những khẳng quyết có tính khách quan này đi và hãy xem xét một cách có phê phán về năng lực phán đoán của ta đơn thuần trong sự quy chiếu với các quan năng nhận thức của ta nhằm cung cấp một giá trị hiệu lực cho nguyên tắc của chúng một cách không giáo điều, mà là cho một châm ngôn đủ cho việc sử dụng lý tính của ta một cách vững chắc. (Chú thích của tác giả).

 

* Ám chỉ luận điểm của Baumgarten trong Metaphysica/Siêu hình học, §98: Concensus essentialium est perfectio (essentialis) transscendentalis” (latinh: sự thống nhất hay sự nhất trí về bản chất là sự hoàn hảo cơ bản (có tính bản chất). Dẫn theo Kant: AA XVII 47, xem thêm XXVIII 989-990 và XXIX 766. (theo Piero Giordanetti, bản Meiner, tr. 460). (N.D).

* Có nghĩa là: một khái niệm rộng hơn được dùng như là một cái phổ biến để cái đặc thù có thể được “thâu gồm” vào bên dưới nó. Nhận thức từ các nguyên tắc, theo Kant, là tiến trình nhận biết cái đặc thù ở trong cái phổ biến nhờ vào các khái niệm. Đó là nhận thức có tính xác định (bestimmend), hay, có tính giáo điều (dogmatisch). (N.D).

* Về sự phân biệt quen thuộc này giữa hai loại khái niệm: xem Kant, Phê phán Lý tính thuần túy, phần Biện chứng pháp siêu nghiệm: “Về các khái niệm của lý tính thuần túy”, B368. (N.D).

 



Xây dựng bởi Ban điều hành website Doxa.com.vn.