Thông tin người dùng
Đăng nhập
Lượt truy cập






![]() | Hôm nay | 94 |
![]() | Hôm qua | 96 |
![]() | Tuần này | 293 |
![]() | Tháng này | 838 |
![]() | Tất cả | 52912 |
Thứ hạng của website
Thành viên Online
Hiện có 2 khách Trực tuyến| Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §75-§78] |
|
|
|
|
IMMANUEL KANT (1724-1804) §75 KHÁI NIỆM VỀ MỘT TÍNH HỢP MỤC ĐÍCH KHÁCH QUAN CỦA TỰ NHIÊN LÀ MỘT NGUYÊN TẮC PHÊ PHÁN CỦA LÝ TÍNH DÀNH CHO NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN PHẢN TƯ Hai câu nói sau đây là hoàn toàn khác nhau: một đằng, nói rằng: “việc tạo ra một số sự vật ở trong Tự nhiên hoặc việc tạo ra toàn bộ giới Tự nhiên chỉ có thể có được bằng một nguyên nhân tự khiến mình hành động dựa theo các ý đồ”; và đằng khác, nói rằng: “Dựa theo đặc tính cấu tạo đặc thù của các quan năng nhận thức của tôi, tôi không thể phán đoán về khả thể của những sự vật này và về việc tạo ra chúng bằng cách nào khác hơn là suy tưởng [hay quan niệm] về một nguyên nhân hành động dựa theo ý đồ, tức là, về một Hữu thể có năng lực tác tạo tương tự với tính nhân quả của một trí tuệ”. Trong trường hợp trước, tôi muốn thiết lập một điều gì đó về đối tượng và có trách nhiệm phải chứng minh tính thực tại khách quan của một khái niệm được giả định như thế; còn trong trường hợp sau, lý tính chỉ xác định việc sử dụng các quan năng nhận thức của tôi, phù hợp với đặc điểm riêng có của chúng và với các điều kiện bản chất của phạm vi lẫn của các giới hạn của chúng mà thôi. Cho nên, nguyên tắc trước là một mệnh đề khách quan dành cho năng lực phán đoán xác định, còn nguyên tắc sau chỉ là một mệnh đề chủ quan dành cho năng lực phán đoán phản tư, tức là, một châm ngôn được lý tính đề ra cho nó [cho năng lực phán đoán phản tư]. Quả thật, ta buộc phải đề ra khái niệm về một ý đồ làm nền móng cho Tự nhiên nếu ta muốn nghiên cứu về Tự nhiên, dù chỉ trong những sản phẩm có tổ chức của nó, bằng cách liên tục quan sát, và vì thế, khái niệm này là một châm ngôn tuyệt đối cần thiết cho việc sử dụng thường nghiệm đối với lý tính của ta. Rõ ràng là, một khi manh mối hướng dẫn như thế cho việc nghiên cứu về Tự nhiên được chấp nhận và được thử thách, thì ít ra ta cũng phải thử áp dụng châm ngôn nói trên của năng lực phán đoán vào cho giới Tự nhiên xét như một toàn bộ, bởi nhờ đó biết đâu nhiều định luật của Tự nhiên có thể tự bộc lộ vì chúng sẽ giấu mình nếu ta tiến hành cách khác do sự hạn chế của khả năng thâm nhập của ta vào trong cơ chế bên trong của Tự nhiên. Nhưng, đối với việc sử dụng này, tuy châm ngôn của năng lực phán đoán rõ ràng là hữu ích, nó lại không tuyệt đối cần thiết, vì lẽ giới Tự nhiên – xét như một toàn bộ có tổ chức – (trong nghĩa hẹp của từ này) không hề được mang lại [trong kinh nghiệm]. Ngược lại, đối với những sản phẩm tự nhiên nhất thiết phải được phán đoán như là hữu ý và không thể có cách hình thành nào khác (nếu ta có đủ tri thức thường nghiệm về đặc tính cấu tạo bên trong của chúng), thì châm ngôn này của năng lực phán đoán phản tư lại tuyệt đối cần thiết, vì lẽ chính bản thân ý tưởng về chúng như là những sự vật có tổ chức là không thể có được nếu không kết hợp với ý tưởng về việc sản sinh ra chúng một cách hữu ý. Bây giờ, khái niệm về một sự vật mà sự hiện hữu hay hình thức của nó được ta hình dung như là có thể có được với điều kiện phải có một mục đích lại gắn liền với khái niệm về tính bất tất của nó (nếu xét theo những định luật tự nhiên). Do đó, những sự vật tự nhiên được ta xem là chỉ có thể có được với tư cách là những mục đích mang lại bằng chứng tốt nhất cho tính bất tất của toàn bộ thế giới đối với lý trí thông thường cũng như cho cả những triết gia vì chúng là cơ sở chứng minh duy nhất có giá trị về sự phụ thuộc và bắt nguồn của thế giới đối với một Hữu thể hiện hữu ở bên ngoài thế giới, – một Hữu thể cũng phải có trí tuệ mới có được hình thức hợp mục đích ấy. | Như thế, Mục đích luận không tìm thấy sự kết thúc việc nghiên cứu của nó ở đâu khác hơn là trong một môn Thần học. Vậy, rốt cục, môn Mục đích luận hoàn chỉnh nhất chứng minh điều gì? Phải chăng nó chứng minh rằng có sự hiện hữu của một Hữu thể có trí tuệ? Không! Nó chỉ chứng minh rằng, dựa theo đặc tính cấu tạo của các quan năng nhận thức của ta và trong việc nối kết chặt chẽ của kinh nghiệm với các nguyên tắc tối cao của lý tính, ta tuyệt đối không thể hình thành một khái niệm nào về khả thể của một thế giới như thế ngoài việc suy tưởng về một nguyên nhân tối cao của thế giới hành động một cách hữu ý. Vì thế, một cách khách quan, ta không thể chứng minh cho mệnh đề rằng có một Hữu thể nguyên thủy có trí tuệ, mà chỉ một cách chủ quan cho việc sử dụng năng lực phán đoán của ta trong sự phản tư của nó về những mục đích ở trong Tự nhiên, vốn không thể được suy tưởng dựa theo nguyên tắc nào khác hơn là nguyên tắc về một tính nhân quả hữu ý của một nguyên nhân tối cao. Còn nếu giả sử ta muốn chứng minh mệnh đề trên đây một cách giáo điều trên những cơ sở mục đích luận, ắt ta sẽ phải vướng vào những khó khăn không thể gỡ ra nổi. Bởi, trong trường hợp ấy, mệnh đề ấy kỳ cùng phải được quy về với kết luận rằng những thực thể có tổ chức ở trong thế giới không thể có được bằng cách nào khác hơn là do một nguyên nhân hành động hữu ý. Và ta sẽ không tránh được việc khẳng quyết điều ấy, vì ta theo dõi những sự vật này trong sự nối kết nhân quả của chúng chỉ dựa vào Ý tưởng về các mục đích và chỉ nhận thức được chúng dựa theo tính hợp quy luật của chúng, nên ta có quyền giả định điều này như là một điều kiện tất yếu cho bất kỳ một thực thể được suy tưởng và được nhận thức nào, tức một điều kiện thuộc về đối tượng chứ không chỉ còn thuộc về chủ thể của ta nữa. Nhưng, ta không thể nào giữ vững khẳng quyết ấy được! Vì lẽ, nói thẳng ra, ta không quan sát được những mục đích ở trong Tự nhiên như là hữu ý mà chỉ suy tưởng về khái niệm này ở trong sự phản tư của ta về những sản phẩm của nó như là manh mối hướng dẫn cho năng lực phán đoán của ta: những mục đích không hề được mang lại cho ta thông qua đối tượng! Thậm chí, một cách tiên nghiệm (a priori), ta không thể nào biện minh được, dù là giả định, về tính thực tại khách quan của một khái niệm như thế. Cho nên, nó mãi mãi là một mệnh đề tuyệt đối chỉ dựa trên những điều kiện chủ quan mà thôi, nghĩa là, của năng lực phán đoán làm công việc phản tư tương ứng với các quan năng nhận thức của ta. | Nếu ta diễn đạt mệnh đề này một cách giáo điều như thể nó có giá trị khách quan, ắt nó sẽ là mệnh đề: “Có sự hiện hữu của một vị Thượng đế”. | Nhưng, với con người chúng ta, ta chỉ có thể được phép đưa ra một công thức hữu hạn: “ta không thể suy tưởng cách nào khác và không thể hiểu được tính hợp mục đích – vốn phải làm cơ sở cho nhận thức của ta về khả thể bên trong của nhiều sự vật tự nhiên – bằng cách nào khác hơn là phải hình dung nó và thế giới nói chung như là một sản phẩm của một nguyên nhân có trí tuệ (tức của một vị Thượng đế)*. Bây giờ, nếu mệnh đề dựa trên một châm ngôn tuyệt đối cần thiết của năng lực phán đoán của ta như thế là đáp ứng hoàn toàn đầy đủ mọi sự sử dụng tư biện lẫn thực hành của lý tính chúng ta trong bất kỳ ý đồ nào của con người, thì tôi muốn biết ta sẽ bị tổn hại gì khi ta không đủ khả năng để chứng minh mệnh đề ấy là cũng có giá trị cho những thực thể cao cấp hơn [những vật hữu cơ có tổ chức] từ các cơ sở khách quan (tiếc rằng những cơ sở này đều vượt khỏi các quan năng nhận thức của ta). Thật thế, điều hoàn toàn chắc chắn là ta không thể nhận thức hoàn chỉnh chứ đừng nói đến giải thích được những thực thể có tổ chức và khả thể nội tại của chúng đơn thuần dựa theo các nguyên tắc cơ giới của Tự nhiên; và cũng chắc chắn để dám mạnh dạn nói rằng thật là phi lý cho con người chúng ta khi ta ra sức hay hy vọng sẽ có một Newton khác xuất hiện trong tương lai có thể làm cho ta hiểu rõ về sự sản sinh dù chỉ là của một cọng cỏ dựa theo các định luật tự nhiên mà không do một ý đồ nào đã sắp đặt cả; trái lại, ta buộc phải dứt khoát phủ nhận năng lực thấu hiểu này nơi con người. Bởi, giả sử ta có thể thâm nhập vào nguyên tắc, nhờ đó Tự nhiên dị biệt hóa những định luật phổ biến như ta được biết và không một cơ sở đầy đủ nào cho khả thể của những thực thể có tổ chức là có thể ẩn giấu được cả (ở trong cơ chế đơn thuần cơ giới của Tự nhiên) và không cần giả định bất kỳ ý đồ nào trong việc sản sinh ra chúng, thì ta vẫn đánh giá nhận định ấy là vượt quá sức con người, bởi vì: làm sao ta biết được như thế? Ở đây, những việc phỏng chừng là không có giá trị khi ta [thực chất] đang làm việc với những phán đoán [tư biện, vượt khỏi khả năng nhận thức] của lý tính thuần túy. – Cho nên, ta không thể phán đoán một cách khách quan, dù là khẳng định hay phủ định, đối với mệnh đề: “liệu có một Hữu thể hành động dựa theo chủ ý làm nền tảng cho những gì được ta gọi một cách đúng đắn là những mục đích tự nhiên như là nguyên nhân của thế giới (và, do đó, như là tác giả [đấng Tạo hóa] của thế giới)? | Chỉ có điều duy nhất chắc chắn là, nếu ta buộc phải phán đoán dựa theo những gì cho phép ta nhận thức nhờ vào bản tính tự nhiên của chính ta (theo những điều kiện và những giới hạn của lý tính của ta), ta không thể làm điều gì khác hơn là đặt một Hữu thể có trí tuệ làm nền tảng cho khả thể của những mục đích tự nhiên ấy. | Chỉ duy điều này là phù hợp với châm ngôn của năng lực phán đoán phản tư của ta, và, vì thế, phù hợp với một cơ sở tuy mang tính chủ quan nhưng lại thiết yếu gắn liền với chủng loài người.
§76 NHẬN XÉT Sự xem xét sau đây rất đáng được triển khai chi tiết hơn trong môn Triết học siêu nghiệm, nhưng ở đây chỉ được đề cập sơ qua nhằm giúp làm sáng tỏ (chứ không phải là một sự chứng minh cho những gì đã trình bày). Lý tính là một quan năng của những nguyên tắc và tiến lên tới đòi hỏi cực độ là cái vô-điều kiện, trong khi giác tính giữ vai trò phục vụ cho lý tính và bao giờ cũng ở trong một điều kiện nhất định phải được mang lại. Thế nhưng, nếu không có các khái niệm của giác tính với tính thực tại khách quan được mang lại cho chúng thì lý tính không thể hình thành bất kỳ phán đoán (tổng hợp) khách quan nào cả, và, với tư cách là lý tính lý thuyết, tự mình tuyệt nhiên không có được những nguyên tắc cấu tạo mà chỉ có được những nguyên tắc điều hành. Ta sớm nhận ra rằng nơi nào giác tính không thể đi theo cùng, lý tính ắt trở thành siêu việt và tự thể hiện trong những Ý niệm được thiết lập (như những nguyên tắc điều hành) chứ không phải trong những khái niệm có giá trị khách quan. | Trong khi đó, giác tính, tuy không thể theo kịp lý tính, nhưng lại rất cần có cho tính giá trị hiệu lực của những đối tượng, giới hạn giá trị hiệu lực của những Ý niệm này [của lý tính] trong phạm vi chủ thể mà thôi, mặc dù [mở rộng nó] nói chung cho mọi chủ thể thuộc giống loài này. | Có nghĩa là, giác tính giới hạn tính giá trị hiệu lực của những Ý niệm vào điều kiện là: dựa theo bản tính tự nhiên của các quan năng nhận thức của (con người) chúng ta, hay, nói khái quát hơn, dựa theo khái niệm mà bản thân ta có thể tạo ra được từ quan năng của một hữu thể có lý tính nhưng hữu hạn, ta không thể và không buộc phải suy tưởng bằng cách nào khác hơn được cả, mặc dù điều này không hề khẳng định rằng cơ sở của một phán đoán như thế là nằm ở trong đối tượng. Sau đây, ta muốn nêu vài ví dụ tuy rất quan trọng và cũng rất khó buộc người đọc phải xem ngay là các mệnh đề đã được chứng minh, nhưng sẽ cung cấp chất liệu để bạn đọc suy nghĩ và có thể góp phần làm sáng tỏ điều chính yếu mà chúng ta muốn bàn ở đây. Điều tất yếu cần thiết đối với giác tính con người là phải phân biệt giữa khả thể và hiện thực của những sự vật. Lý do của điều này là ở trong chủ thể trong bản tính tự nhiên của các quan năng nhận thức của ta. Một sự phân biệt như thế (giữa cái khả hữu và cái hiện thực) ắt sẽ không có nếu việc nhận thức không cần có hai yếu tố hoàn toàn khác nhau về loại, đó là giác tính dành cho những khái niệm và trực quan cảm tính dành cho những đối tượng tương ứng với chúng. Nếu giả sử giác tính của ta là có tính trực quan, ắt nó sẽ không có đối tượng nào khác ngoài những đối tượng hiện thực. Trong trường hợp ấy, những khái niệm (chỉ mở rộng đến khả thể của một đối tượng) lẫn những trực quan cảm tính (mang lại cho ta một điều gì đấy nhưng không cho phép ta nhận thức điều ấy như một đối tượng [vì còn cần phải có khái niệm của giác tính]), ắt đều biến mất hết cả. Trong khi đó, mọi sự phân biệt của ta giữa cái đơn thuần khả hữu với cái hiện thực lại dựa vào chỗ: cái khả hữu chỉ có nghĩa là sự thiết định biểu tượng về một sự vật liên quan đến khái niệm của ta và, nói chung, liên quan đến quan năng suy tưởng, trong khi cái hiện thực là sự thiết định sự vật trong bản thân nó (bên ngoài khái niệm này)*. Vậy, sự phân biệt những sự vật khả hữu với những sự vật hiện thực là một sự phân biệt chỉ đơn thuần có giá trị chủ quan đối với giác tính con người, vì lẽ ta lúc nào cũng có thể có một sự vật nào đó trong các tư tưởng của ta, mặc dù nó không hề tồn tại hiện thực, hoặc ta có thể hình dung một sự vật như là được mang lại mặc dù ta không hề có khái niệm nào về nó. Cho nên, các mệnh đề như là: “những sự vật có thể khả hữu nhưng không tồn tại hiện thực”, và “do đó, từ khả thể đơn thuần không thể suy ra sự tồn tại hiện thực” đều hoàn toàn có giá trị đối với lý tính con người song không hề chứng minh rằng sự phân biệt này là nằm trong bản thân những sự vật**. Bảo rằng ta không được phép suy ra, và do đó, bảo rằng các mệnh đề ấy tuy có giá trị về những đối tượng (trong chừng mực quan năng nhận thức của ta – xét như có-điều kiện một cách cảm tính – đang làm việc với những đối tượng của giác quan) nhưng không có giá trị đối với những sự vật nói chung [những sự vật trong tự thân chúng] là hết sức sáng tỏ nếu ta hiểu được đòi hỏi không thể từ bỏ của lý tính là luôn giả định một cái gì đấy (tức cơ sở nguyên thủy) phải tất yếu tồn tại như là cái vô-điều kiện, trong đó khả thể và hiện thực không còn được phân biệt nữa, và, đối với Ý niệm ấy, giác tính của ta tuyệt nhiên không hề có nổi một khái niệm nào, nghĩa là, giác tính không tìm ra cách nào để hình dung được một sự vật như thế lẫn phương thức hiện hữu của nó. Bởi nếu giác tính suy tưởng về một sự vật [vô-điều kiện] như thế (giác tính có thể tha hồ suy tưởng về bất kỳ điều gì), thì sự vật chỉ đơn thuần được hình dung như là khả hữu mà thôi. Còn nếu giác tính có ý thức về sự vật ấy như là được mang lại ở trong trực quan, thì bấy giờ sự vật ấy hóa ra là hiện thực và không còn có gì để được suy tưởng như là khả hữu. Như thế, khái niệm về một Hữu thể tuyệt đối tất yếu quả là một Ý niệm thiết yếu, không thể thiếu được của lý tính, nhưng vẫn là một khái niệm nghi vấn mà giác tính con người không bao giờ có thể đạt tới được. Ý niệm ấy tuy có giá trị cho việc sử dụng các quan năng nhận thức của ta tương ứng với đặc điểm cấu tạo riêng có của chúng, nhưng không có giá trị về đối tượng. | Và [tất nhiên] nó cũng không có giá trị đối với bất kỳ một loại hữu thể có nhận thức nào, bởi tôi không thể tiền-giả định rằng trong bất kỳ loại hữu thể có khả năng nhận thức nào cũng có sự phân biệt giữa tư duy [suy tưởng] và trực quan như là hai điều kiện khác nhau trong việc sử dụng các quan năng nhận thức, hay nói khác đi, như là hai điều kiện khác nhau giữa khả năng và hiện thực của những sự vật. Đối với [loại] giác tính nào đó vốn không có sự phân biệt này, nó có thể bảo rằng: mọi đối tượng được tôi biết thì đều tồn tại, nghĩa là, đều hiện hữu hiện thực (existieren) cả, và, như vậy, khả thể [hay tính có thể có] của sự vật nào không hiện hữu hiện thực (tức tính bất tất hay tính tất yếu trái ngược nhau với những sự vật hiện hữu hiện thực) ắt sẽ tuyệt nhiên không bao giờ có mặt trong sự hình dung của một hữu thể thuộc loại như thế. Nhưng, điều gây khó khăn cho giác tính của ta khi xử lý những khái niệm của mình như cách lý tính đang làm chỉ là ở chỗ: đối với giác tính, như là giác tính của con người, điều được lý tính biến thành nguyên tắc thuộc về đối tượng thì đối với giác tính, đó là cái gì siêu việt (nghĩa là bất khả đối với các điều kiện chủ quan của nhận thức giác tính). – Ở đây, châm ngôn luôn luôn có giá trị là: mọi đối tượng mà sự nhận thức về chúng vượt ra khỏi quan năng của giác tính đều được ta suy tưởng dựa theo các điều kiện chủ quan của việc sử dụng quan năng này, tức các điều kiện thiết yếu gắn liền với bản tính tự nhiên của chúng ta (tức của con người). | Nếu những phán đoán được đưa ra bằng cách này (và không có cách lựa chọn nào khác đối với các khái niệm siêu việt) không thể trở thành những nguyên tắc cấu tạo làm nhiệm vụ xác định đối tượng đúng như bản thân đối tượng, thì chúng vẫn là những nguyên tắc điều hành được chấp nhận từ thế đứng của con người trong việc sử dụng chúng một cách nội tại và vững chắc. Giống như lý tính, trong việc nghiên cứu lý thuyết về giới Tự nhiên, phải giả định Ý niệm về một sự tất yếu vô-điều kiện của cơ sở nguyên thủy của Tự nhiên, thì trong lĩnh vực thực hành, nó cũng tiền-giả định một tính nhân quả vô-điều kiện hay sự tự do của riêng nó (đối với Tự nhiên), bằng cách có ý thức về mệnh lệnh hay điều răn (Gebote) luân lý của chính mình. Ở đây, sự tất yếu khách quan của hành vi, với tư cách là một nghĩa vụ, ắt sẽ đối lập lại với sự tất yếu mà hành vi có thể có với tư cách là một sự kiện, nếu cơ sở của hành vi là ở trong Tự nhiên chứ không phải ở trong Tự do (tức là, ở trong tính nhân quả của lý tính). | Hành vi tuyệt đối-tất yếu về mặt luân lý được xem là hoàn toàn bất tất về mặt “tự nhiên” (physisch), vì những gì tất yếu phải diễn ra [về mặt luân lý] thường không hề diễn ra [về mặt “tự nhiên”]. | Cho nên, rõ ràng là do đặc điểm cấu tạo chủ quan của quan năng luân lý của ta khiến cho những quy luật luân lý phải được hình dung như là những mệnh lệnh, những điều răn, và những hành vi phù hợp với chúng được xem như là những nghĩa vụ và lý tính diễn đạt sự tất yếu này không phải bằng một chữ “Là” (Sein) (diễn ra như một sự kiện) mà bằng chữ “Phải là” (Sein-Sollen). | Điều này ắt không phải như thế nếu giả sử lý tính, trong tính nhân quả của nó, được xem như độc lập với cảm năng (như là điều kiện chủ quan cho việc áp dụng lý tính vào những đối tượng của Tự nhiên), và, với tư cách là nguyên nhân, nếu lý tính là ở trong một thế giới khả niệm [siêu-cảm tính] hoàn toàn nhất trí với quy luật luân lý. | Bởi, trong một thế giới như thế, không hề có sự phân biệt giữa cái “Phải-là” (Sollen) và cái “Đang làm” (Tun), giữa một quy luật thực hành về những gì chỉ có thể có được thông qua bản thân ta với quy luật lý thuyết về những gì trở thành hiện thực thông qua bản thân ta. Do đó, mặc dù một thế giới khả niệm – trong đó mọi việc sở dĩ là hiện thực chỉ vì chúng (như là điều Thiện) là khả hữu cùng với sự Tự do như là điều kiện hình thức của chúng – đối với ta là một khái niệm siêu việt, không thể dùng được như là một nguyên tắc cấu tạo để xác định một đối tượng và tính thực tại khách quan của nó nhưng nó vẫn là một nguyên tắc điều hành phổ biến do đặc điểm cấu tạo của bản tính tự nhiên (có phần cảm tính) và của quan năng của ta trong chừng mực ta có thể hình dung nó tương ứng với đặc điểm cấu tạo của lý tính chúng ta, nghĩa là, của mọi hữu thể có lý tính nhưng lại gắn liền với thế giới cảm tính. Nguyên tắc [điều hành] này không xác định một cách khách quan đặc điểm cấu tạo của sự Tự do xét như hình thức của tính nhân quả, nhưng lại làm cho quy tắc của những hành vi phù hợp với Ý niệm ấy trở thành mệnh lệnh cho bất kỳ ai, với giá trị hiệu lực không kém gì như khi giả sử nó làm nhiệm vụ “xác định”. Điều này cũng đúng như thế đối với trường hợp được ta đang bàn ở đây. | Ta ắt sẽ không tìm thấy sự phân biệt nào giữa cơ chế [máy móc] của Tự nhiên và kỹ thuật của Tự nhiên, tức, của sự nối kết hợp mục đích của nó, nếu giả sử giác tính của ta không thuộc vào loại phải nhất thiết đi từ cái phổ biến đến cái đặc thù. | Đối với cái đặc thù, năng lực phán đoán ắt sẽ không nhận ra được tính hợp mục đích nào, và, do đó, không thể hình thành phán đoán xác định nào cả, nếu không có một quy luật phổ biến để thâu gồm cái đặc thù ấy vào bên dưới nó. Nhưng, cái đặc thù, xét như cái đặc thù, chứa đựng một điều gì đó bất tất trong quan hệ với cái phổ biến, trong khi đó, lý tính lại đòi hỏi sự thống nhất và tính hợp quy luật trong việc nối kết những quy luật đặc thù của Tự nhiên. | Tính hợp quy luật này của cái đặc thù được gọi là tính hợp mục đích; và việc rút ra những quy luật đặc thù từ cái phổ biến, do yếu tố bất tất của chúng, là không thể có được một cách tiên nghiệm (a priori) thông qua một sự xác định đối với khái niệm về đối tượng. | Như thế, khái niệm về tính hợp mục đích của Tự nhiên trong những sản phẩm của nó là tất yếu đối với năng lực phán đoán của con người trong quan hệ với Tự nhiên, nhưng lại không liên quan gì đến sự xác định về đối tượng. | Vì thế, nó là một nguyên tắc chủ quan của lý tính đối với năng lực phán đoán; và, với tư cách là nguyên tắc điều hành (chứ không phải cấu tạo) vẫn có giá trị hiệu lực tất yếu đối với năng lực phán đoán của con người như thể đó là một nguyên tắc khách quan.
§77 VỀ ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CÓ CỦA GIÁC TÍNH CON NGƯỜI NHỜ ĐÓ KHÁI NIỆM VỀ MỘT MỤC ĐÍCH TỰ NHIÊN CÓ THỂ CÓ ĐƯỢC CHO TA Trong mục “Nhận xét” [§76] trước đây, ta đã nêu các đặc điểm riêng có của các quan năng nhận thức của ta (kể cả các quan năng cao cấp) đã dễ dàng dẫn dắt ta đi đến chỗ chuyển các đặc điểm ấy thành những thuộc tính khách quan vào bản thân những sự vật. | Nhưng, các đặc điểm ấy chỉ liên quan đến các ý niệm mà không có đối tượng nào trong kinh nghiệm có thể tương ứng được và chúng chỉ có thể phục vụ như là các nguyên tắc điều hành trong việc theo đuổi kinh nghiệm mà thôi. Đó chính là trường hợp của khái niệm về một mục đích tự nhiên liên quan đến nguyên nhân cho khả thể của một thuộc tính như thế và nguyên nhân ấy chỉ có thể nằm ở trong Ý niệm. | Nhưng, kết quả tương ứng với nguyên nhân ấy (tức bản thân sản phẩm) lại được mang lại ở trong Tự nhiên; và khái niệm về một tính nhân quả của Tự nhiên như là của một Hữu thể hành động dựa theo các mục đích lại có vẻ biến Ý niệm về một mục đích tự nhiên thành một nguyên tắc cấu tạo, cho nên, chính ở điểm này, Ý niệm ấy có chỗ dị biệt với mọi Ý niệm khác. Tuy nhiên, chỗ dị biệt này là ở chỗ: Ý niệm đang bàn không phải là một nguyên tắc lý tính dành cho giác tính mà là cho năng lực phán đoán. Vì thế, nó chỉ là việc áp dụng một giác tính nói chung vào cho những đối tượng khả hữu của kinh nghiệm; cụ thể là trong những trường hợp khi năng lực phán đoán chỉ có thể có tính phản tư chứ không có tính xác định, và do đó, khi đối tượng, dù được mang lại ở trong kinh nghiệm, không thể được phán đoán một cách xác định tương ứng với Ý niệm (huống hồ tương ứng một cách hoàn toàn) mà chỉ có thể được phản tư mà thôi. Như vậy, đây là một đặc điểm riêng có của giác tính (con người) của chúng ta liên quan đến năng lực phán đoán trong sự phản tư của nó về những sự vật của Tự nhiên. Nhưng, nếu như thế, thì ở đây phải có ý niệm về một giác tính khả hữu khác hẳn với giác tính con người làm căn bản (cũng giống như trong Phê phán lý tính thuần túy, ta phải có trong tư tưởng về một [loại] trực quan khả hữu nào đó, khác hẳn với trực quan của ta, nếu trực quan của ta phải được xem như là một loại đặc thù, vì đối tượng chỉ có giá trị với nó như là những “hiện tượng”)*. | Và vì thế, ta có thể nói rằng: một số sản phẩm tự nhiên, – do đặc điểm đặc thù của giác tính chúng ta –, phải được chúng ta xem xét về mặt khả thể của chúng như thể là được sản sinh ra một cách hữu ý và như là những mục đích. | Nhưng ta lại không được vì thế mà đòi hỏi rằng ở đây phải thực sự có mặt một nguyên nhân đặc thù có sự hình dung về một mục đích như là cơ sở [có chức năng] xác định; và [đồng thời] ta cũng không được phép phủ nhận rằng một Giác tính nào đó, khác hẳn (nghĩa là: cao hơn) giác tính con người có thể tìm ra được cơ sở cho khả thể của những sản phẩm như thế của Tự nhiên ngay trong cơ chế [máy móc] của Tự nhiên, tức là, trong một sự nối kết nhân quả mà nguyên nhân của nó không loại trừ là một Giác tính [nào đó cao hơn]. Như vậy ở đây vấn đề là nằm ở mối quan hệ giữa giác tính của ta với năng lực phán đoán, nghĩa là, ta đi tìm một sự bất tất nào đó trong đặc điểm cấu tạo của giác tính chúng ta để có thể chỉ ra đặc điểm này như là đặc điểm riêng có phân biệt giác tính của ta với các loại Giác tính khả hữu nào khác. Tính bất tất này có mặt một cách hoàn toàn tự nhiên ở trong cái đặc thù mà năng lực phán đoán có nhiệm vụ đưa nó vào dưới cái phổ biến của các khái niệm của giác tính. | Bởi vì, cái phổ biến của giác tính (con người) chúng ta không xác định cái đặc thù; và trước sự tri giác của ta, bao nhiêu sự vật khác nhau với vô vàn những cách thức lại có thể xuất hiện nhất trí trong một đặc điểm chung là điều hoàn toàn bất tất. Giác tính của ta là một quan năng của những khái niệm, tức là, một giác tính suy lý (diskursiv); và việc cái đặc thù thuộc đủ loại và khác nhau đến bao nhiêu đi nữa đều có thể được mang lại cho giác tính ở trong Tự nhiên và được đưa vào dưới những khái niệm của giác tính rõ ràng phải là có tính bất tất. Nhưng, vì lẽ trực quan cũng thuộc về nhận thức, và một quan năng trực quan có một tính tự khởi hoàn toàn ắt phải là một quan năng nhận thức khác hẳn với cảm năng và hoàn toàn độc lập với cảm năng, hay, nói khác đi, phải là một Giác tính theo nghĩa rộng nhất của từ này [ám chỉ “trực quan trí tuệ” của thần thánh. N.D]. Như thế, ta có thể suy tưởng về một Giác tính [có khả năng] trực quan (intuitiver Verstand) (chỉ theo nghĩa phủ định [nghĩa là không biết nó là gì], chỉ có điều không phải là suy lý [như giác tính con nguời])*, tức một giác tính không đi từ cái phổ biến đến cái đặc thù, rồi từ đó đi đến cái cá biệt (thông qua những khái niệm). | Đối với loại Giác tính ấy, tính bất tất của sự trùng hợp của Tự nhiên trong những sản phẩm của nó dựa theo những quy luật đặc thù với giác tính ắt không diễn ra; và chính sự bất tất này làm cho giác tính của ta gặp bao khó khăn để đưa cái đa tạp của Tự nhiên vào sự thống nhất của nhận thức, một công việc mà giác tính của ta chỉ có thể hoàn thành bằng cách mang những đặc điểm tự nhiên vào một sự tương ứng hết sức bất tất với quan năng của những khái niệm [tức: giác tính] của ta, điều mà loại Giác tính-trực quan ấy không hề cần đến. Bây giờ, để chí ít có thể suy tưởng về khả thể của một sự trùng hợp như thế của những sự vật của Tự nhiên với năng lực phán đoán của ta (sự trùng hợp được ta hình dung như là bất tất, và, do đó, chỉ có thể có được nhờ vào một mục đích hướng về nó), ta đồng thời phải suy tưởng về một Giác tính khác mà trong quan hệ với nó và nhất là với mục đích được gán cho nó, ta có thể hình dung sự trùng hợp giữa những định luật với năng lực phán đoán của ta như là tất yếu, trong khi đối với giác tính của ta, sự trùng hợp ấy chỉ có thể suy tưởng được là nhờ thông qua sự trung gian nối kết của những mục đích. Trong thực tế, giác tính của ta có đặc tính là: trong tiến trình nhận thức, chẳng hạn, nhận thức về nguyên nhân của một sản phẩm, ta phải đi từ cái phổ biến-phân tích (các khái niệm) đến cái đặc thù (tức trực quan thường nghiệm được mang lại). | Như thế, đối với cái đa tạp của cái đặc thù, giác tính không xác định điều gì hết mà phải chờ sự xác định này từ năng lực phán đoán vốn làm công việc thâu gồm trực quan thường nghiệm (nếu đối tượng là một sản phẩm tự nhiên) vào dưới khái niệm. Tuy nhiên, ta vẫn có thể suy tưởng đến một [loại] Giác tính không có tính suy lý như giác tính của ta mà có tính trực quan, ắt Giác tính ấy sẽ đi từ cái phổ biến-tổng hợp (trực quan về một cái toàn bộ xét như cái toàn bộ) đến cái đặc thù, tức là, đi từ cái toàn bộ đến những bộ phận. | Tính bất tất của sự nối kết giữa những bộ phận để cho một hình thức xác định của cái toàn bộ có thể có được, không hề được bao hàm trong một Giác tính như thế và trong sự hình dung của nó về cái toàn bộ. | Giác tính của ta lại cần có điều này bởi nó phải đi từ những bộ phận như là những cơ sở được suy tưởng một cách phổ biến đến những hình thức khác nhau có thể được thâu gồm vào dưới những cơ sở ấy như là những kết quả. Dựa theo đặc điểm cấu tạo của giác tính chúng ta, một cái toàn bộ hiện thực của Tự nhiên chỉ được xem như là kết quả của những lực vận động cạnh tranh nhau của những bộ phận. Vì thế, nếu giả thiết rằng ta không muốn hình dung khả thể của cái toàn bộ như là phụ thuộc vào khả thể của những bộ phận (dựa theo phương cách của giác tính suy lý của ta), mà dựa theo chuẩn mực của Giác tính-trực quan (căn nguyên) để hình dung khả thể của những bộ phận (dựa theo đặc điểm cấu tạo và sự nối kết của chúng) như là phụ thuộc vào khả thể của cái toàn bộ. | [Trong trường hợp ấy], tương ứng với đặc điểm riêng có nói trên của giác tính chúng ta, không thể có việc cái toàn bộ sẽ chứa đựng cơ sở cho khả thể của sự nối kết của những bộ phận (điều này ắt sẽ là một sự mâu thuẫn trong nhận thức suy lý), mà chỉ có việc: sự hình dung về cái toàn bộ có thể chứa đựng cơ sở cho khả thể của hình thức của nó và sự nối kết của những bộ phận thuộc về nó. Trong trường hợp ấy, một cái toàn bộ như thế ắt sẽ là một kết quả (sản phẩm), còn sự hình dung về nó được xem như là nguyên nhân cho khả thể của nó; thế nhưng, sản phẩm của một nguyên nhân mà cơ sở xác định của nó chỉ đơn thuần là sự hình dung về kết quả của nó chính là cái được gọi là một mục đích. | Do đó, nó [cái toàn bộ] chỉ đơn thuần là một kết quả của đặc điểm cấu tạo đặc thù của giác tính chúng ta, vốn hình dung những sản phẩm của Tự nhiên như là khả hữu dựa theo một loại tính nhân quả khác hẳn với tính nhân quả của những định luật tự nhiên của vật chất, tức tính nhân quả của những mục đích và nguyên nhân mục đích. | Và như thế, nguyên tắc này không làm việc với khả thể của bản thân những sự vật như thế (cho dù được xem như là những hiện tượng) dựa theo phương thức sản sinh ra chúng mà chỉ với sự phán đoán về chúng, tức với sự phán đoán là khả hữu đối với giác tính của ta. Ở đây, ta cũng thấy ngay lý do tại sao trong khoa học tự nhiên, ta không còn vừa lòng với một sự giải thích về những sản phẩm của Tự nhiên bằng một tính nhân quả dựa theo những mục đích. | Bởi lẽ ở đó, ta chỉ muốn phán đoán về sự sản sinh của Tự nhiên đơn thuần theo kiểu phù hợp với quan năng phán đoán của ta, tức với năng lực phán đoán phản tư, chứ không liên quan đến bản thân những sự vật nhân danh năng lực phán đoán xác định. Ở đây, tuyệt nhiên không cần phải chứng minh rằng một “intellectus archetypus” [Giác tính hay Trí tuệ căn nguyên] là khả hữu, mà chỉ cần chứng minh rằng ta được dẫn dắt tới Ý niệm về nó – vốn không chứa đựng sự mâu thuẫn nào –, đối lập lại với giác tính suy lý của ta, là thứ giác tính cần đến “những hình ảnh” [những bản sao] (intellectus ectypus), và đối lập lại với tính bất tất của đặc điểm cấu tạo của giác tính này. Nếu ta xem xét một cái toàn bộ mang tính vật chất về mặt hình thức của nó như là một sản phẩm của những bộ phận cùng với những lực và năng lực tự kết hợp với nhau (cũng như với những vật liệu khác), ta hình dung về một phương thức sản sinh có tính cơ giới của cái toàn bộ ấy. Nhưng, bằng cách này, không hình thành nên khái niệm nào về một cái toàn bộ như là mục đích, mà khả thể bên trong của nó luôn tiền-giả định ý niệm về một cái toàn bộ khiến cho đặc tính cấu tạo và phương thức hoạt động của những bộ phận phải phụ thuộc vào, giống như khi ta phải hình dung về một cơ thể có tổ chức. Nhưng, như đã thấy, điều này không dẫn đến kết luận rằng việc sản sinh có tính cơ giới của một cơ thể như thế là không thể có được; bởi bảo thế thì cũng phải bảo rằng đối với bất kỳ loại giác tính nào cũng đều không thể (hay mâu thuẫn) khi hình dung một sự thống nhất như thế ở trong sự nối kết của cái đa tạp mà không có ý niệm về sự thống nhất và đồng thời cũng là nguyên nhân sản sinh ra nó, tức là, không có sự sản sinh hữu ý [có mục đích]. Tất nhiên, ta có thể đi đến kết luận ấy nếu giả sử ta có quyền xem những thực thể vật chất như là những vật-tự thân (Ding an sich selbst). Vì, trong trường hợp ấy, sự thống nhất tạo nên cơ sở cho khả thể của những cấu tạo tự nhiên ắt chỉ đơn giản là sự thống nhất của không gian. | Song, không gian lại không phải là cơ sở hiện thực của những sản phẩm mà chỉ là điều kiện mô thức của chúng*, mặc dù không gian có điểm tương tự với cơ sở hiện thực được ta tìm kiếm ở chỗ trong đó không bộ phận nào có thể được xác định trừ khi ở trong mối quan hệ với cái toàn bộ (do đó, hình dung về cái toàn bộ là cơ sở cho khả thể của những bộ phận). Nhưng, vì chí ít cũng có thể xem xét thế giới vật chất như là hiện tượng đơn thuần và cũng có thể suy tưởng về cơ chất của thế giới ấy như cái gì giống như một vật-tự thân (không phải là hiện tượng), và gán cho nó một trực quan trí tuệ tương ứng (dù không phải là loại trực quan của chúng ta). | Như thế, dù là không thể nhận thức được đối với ta, ắt có ở đây một cơ sở hiện thực siêu-cảm tính dành cho giới Tự nhiên, mà bản thân ta cũng thuộc về giới Tự nhiên ấy. | Trong giới Tự nhiên ấy, ta [vừa] xem xét những gì là tất yếu ở trong Tự nhiên xét như đối tượng của giác quan dựa theo những định luật máy móc, nhưng [vừa] xem xét dựa theo những quy luật mục đích luận về sự nhất trí và thống nhất của những định luật đặc thù và những hình thức của nó – mà theo cơ chế máy móc, ta phải phán đoán một cách bất tất – xét như những đối tượng của lý tính (thậm chí cả toàn bộ giới Tự nhiên như là một Hệ thống). | Vậy, ta cần phải phán đoán về giới Tự nhiên dựa theo cả hai loại nguyên tắc khác nhau, trong đó phương cách giải thích cơ giới không bị phương cách mục đích luận loại bỏ như thể chúng mâu thuẫn với nhau. Từ đó ta có thể nhận ra một điều vốn thường dễ phỏng đoán nhưng rất khó chứng minh và khẳng quyết chắc chắn, đó là: nguyên tắc về một sự diễn dịch [hay diễn giải] có tính cơ giới về những sản phẩm tự nhiên hợp mục đích là có thể cùng tồn tại bên cạnh sự diễn dịch mục đích luận, đồng thời không hề cho phép ta không cần đến sự diễn dịch mục đích luận. | Nghĩa là: trong một sự vật mà ta phải phán đoán như là một mục đích tự nhiên (một thực thể hữu cơ, có tổ chức), ta phải tận lực tìm tòi mọi định luật đã biết lẫn còn phải khám phá về sự sản sinh có tính cơ giới và phải hy vọng sẽ có nhiều tiến bộ trong việc này, đồng thời không bao giờ có thể không cần đến một cơ sở hoàn toàn khác của sự sản sinh cho khả thể của một sản phẩm như thế, tức không bao giờ không cần cầu viện đến một tính nhân quả nhờ vào những mục đích. | Tuyệt nhiên không một lý tính nào của con người (cũng như không một lý tính hữu hạn nào giống lý tính của ta về chất và cho dù có vượt hơn ta về mức độ) có thể hy vọng hiểu được sự sản sinh kể cả của một ngọn cỏ chỉ bằng những nguyên nhân cơ giới đơn thuần. Về khả thể của một đối tượng như vậy, sự nối kết mục đích luận của các nguyên nhân và kết quả là hoàn toàn không thể thiếu được đối với năng lực phán đoán, kể cả trong việc nghiên cứu về nó chỉ bằng sự hướng dẫn của kinh nghiệm. | Vì lẽ những đối tượng bên ngoài xét như những hiện tượng không thể bắt gặp một cơ sở đầy đủ liên quan đến các mục đích, nên, cơ sở này, tuy nằm ở bên trong Tự nhiên, nhưng chỉ có thể được đi tìm ở trong cơ chất siêu-cảm tính (übersinnliches Substrat) của Tự nhiên, thế nhưng mọi nhận thức khả hữu của ta về nó đều bị cắt đứt. | Thế nên, ta tuyệt nhiên không thể nào khai thác được từ bản thân giới Tự nhiên những cơ sở cho việc giải thích về những sự nối kết hợp mục đích; và do đặc điểm cấu tạo của các quan năng nhận thức của con người, ta tất yếu phải đi tìm cơ sở tối cao cho những sự nối kết này ở trong một Giác tính nguyên thủy với tư cách là Nguyên nhân của thế giới.
§78 VỀ SỰ HỢP NHẤT GIỮA NGUYÊN TẮC CƠ GIỚI LUẬN PHỔ QUÁT CỦA VẬT CHẤT VỚI NGUYÊN TẮC MỤC ĐÍCH LUẬN TRONG “KỸ THUẬT CỦA TỰ NHIÊN” (TECHKIK DER NATUR) Điều vô cùng quan trọng đối với lý tính là không được đánh mất cơ chế [máy móc] của Tự nhiên ở trong những sản phẩm của nó, và, trong việc giải thích về chúng, không được bỏ qua cơ chế này, bởi, nếu không có cơ chế ấy, ta sẽ không thể đạt được tri thức nào hết về bản tính tự nhiên của những sự vật. Nếu ta lập tức thừa nhận rằng có một Kiến trúc sư tối cao [Đấng tạo hóa] đã trực tiếp sáng tạo ra những hình thức của giới Tự nhiên ngay từ đầu hay bảo rằng Đấng tạo hóa ấy đã tiền định những hình thức tiếp tục diễn ra trong Tự nhiên theo cùng một khuôn mẫu, nhận thức của ta về Tự nhiên ắt chẳng tăng tiến được chút gì. | Lý do là vì: ta không thể biết gì về phương thức hành động của Hữu thể ấy lẫn về những ý tưởng chứa đựng những nguyên tắc cho khả thể của những thực thể tự nhiên, và, không thể dùng chúng để giải thích giới Tự nhiên từ bên trên xuống (theo kiểu tiên nghiệm/a priori). Còn nếu đi từ dưới lên (theo kiểu hậu nghiệm/a posteriori), tức xuất phát từ những hình thức hình thức của những đối tượng của kinh nghiệm, ta mong muốn giải thích tính hợp mục đích mà ta tin rằng mình sẽ gặp được ở trong kinh nghiệm bằng cách viện đến một nguyên nhân hoạt động tương ứng với những mục đích, thì sự giải thích của ta hoàn toàn có tính lặp thừa (tautologisch)* và ta chỉ lừa dối lý tính bằng ngôn từ mà thôi. | Đó là chưa nói, với cách giải thích này, khi ta tự lạc lối vào trong cái siêu việt mà tri thức tự nhiên không thể nào theo kịp, lý tính ắt bị dẫn dắt vào con đường mơ mộng hão huyền, điều mà ý hướng và mục đích (Bestimmung)* tối thượng của lý tính phải biết tránh khỏi. Mặt khác, cũng cần thiết không kém là không được đơn giản bỏ qua châm ngôn của lý tính về việc sử dụng nguyên tắc về mục đích trong những sản phẩm của Tự nhiên. | Bởi vì, mặc dù nguyên tắc này không làm cho phương cách sản sinh của những sản phẩm ấy được dễ hiểu hơn chút nào, nhưng nó vẫn là một nguyên tắc trợ giúp nghiên cứu (heuristisch)** trong việc tìm tòi những định luật đặc thù của Tự nhiên; tất nhiên với điều kiện là không định dùng nó để giải thích bản thân giới Tự nhiên – trong việc này, ta thường vẫn chỉ nói về những mục đích tự nhiên, dù rõ ràng muốn lý giải một sự thống nhất hữu ý về mục đích –, nghĩa là, không tìm kiếm cơ sở cho khả thể của những định luật đặc thù này ở bên ngoài Tự nhiên. Nhưng, vì kỳ cùng ta cũng phải đi đến vấn đề này, nên lại cũng cần thiết phải suy tưởng cho Tự nhiên một loại tính nhân quả đặc biệt không biểu lộ chính mình ở bên trong Tự nhiên như cơ chế máy móc của những nguyên nhân tự nhiên. | Nghĩa là, bên cạnh tính thụ nhận (Rezeptivität) của nhiều hình thức khác nhau của vật chất thông qua cơ chế máy móc, phải được bổ sung thêm một tính tự khởi (Spontaneität) của một nguyên nhân (tất nhiên không thể là vật chất), vì nếu không có nguyên nhân này, ắt không nêu được cơ sở nào cho những hình thức ấy. Không nghi ngờ gì, lý tính, trước khi đi bước này, phải tiến hành hết sức thận trọng và không được ra sức giải thích mọi “kỹ thuật của Tự nhiên” – tức bất kỳ quan năng sản sinh nào của Tự nhiên cho thấy tính hợp mục đích trong hình thái của nó chỉ cho sự lĩnh hội của ta (chẳng hạn như nơi những cơ thể sống) – bằng cách mục đích luận, mà bao giờ cũng phải xem như là khả hữu một cách cơ giới trong chừng mực có thể được. | Nhưng, nếu vì thế mà muốn loại trừ hoàn toàn nguyên tắc mục đích luận và chỉ đơn thuần chạy theo cơ chế máy móc đơn thuần – trong những trường hợp mà việc nghiên cứu của lý tính về khả thể của những hình thức tự nhiên bằng các nguyên nhân của chúng cho thấy tính hợp mục đích là không thể phủ nhận được và rõ ràng có quan hệ với một loại tính nhân quả khác – thì tức là làm cho lý tính trở nên hoang đường, đẩy nó vào mớ bòng bong của những ảo ảnh về những năng lực tự nhiên không thể nào suy tưởng được, không khác gì việc làm cho lý tính trở thành mơ mộng hão huyền khi chỉ chạy theo phương cách giải thích đơn thuần mục đích luận, bất chấp cơ chế tự nhiên. Trong cùng một sự vật tự nhiên, cả hai nguyên tắc không thể được nối kết lại với nhau như là các mệnh đề cơ bản để giải thích (hay diễn dịch) cái này bằng cái kia được, nghĩa là, chúng không thể hợp nhất đối với năng lực phán đoán xác định như là các nguyên tắc có tính giáo điều và cấu tạo của việc tìm hiểu về Tự nhiên. Chẳng hạn, nếu tôi lựa chọn cách nhìn nhận rằng một con giòi là sản phẩm của cơ chế máy móc đơn thuần của chất liệu (của việc cấu tạo mới mẻ do chất liệu tự thực hiện khi các thành tố của nó bị thối rữa), thì tôi không thể suy diễn cùng một sản phẩm ấy từ cùng một chất liệu như là được tạo ra từ một tính nhân quả hoạt động theo các mục đích. Ngược lại, nếu tôi xem cùng một sản phẩm như là một mục đích tự nhiên, tôi không thể tính tới bất kỳ phương cách sản sinh cơ giới nào về nó, rồi xem đó như là nguyên tắc cấu tạo của năng lực phán đoán của tôi về khả thể của nó, và, do đó, hợp nhất cả hai nguyên tắc lại với nhau. Phương pháp giải thích này loại trừ phương pháp kia, kể cả khi giả định rằng, một cách khách quan, cả hai cơ sở cho khả thể của một sản phẩm như thế đều dựa trên một cơ sở duy nhất thì ta cũng không quan tâm đến cái cơ sở này. Nguyên tắc làm cho sự hợp nhất cả hai có thể có được khi phán đoán về Tự nhiên phải được đặt ở trong cái gì nằm bên ngoài cả hai (và do đó, nằm bên ngoài sự hình dung thường nghiệm-khả hữu về Tự nhiên) nhưng lại chứa đựng cơ sở cho chúng, đó là trong cái Siêu-cảm tính mà cả hai đều quy chiếu vào. Nhưng, về cái Siêu-cảm tính này, ta lại không thể có khái niệm nào ngoài khái niệm bất định về một cơ sở làm cho việc phán đoán về Tự nhiên bằng những định luật thường nghiệm có thể có được, nhưng ta không thể xác định nó chính xác hơn bằng bất kỳ thuộc tính nào cả. | Do đó, sự hợp nhất của cả hai nguyên tắc không thể dựa trên một cơ sở nhằm giải thích (Erklärung-Explikation) về khả thể của một sản phẩm dựa theo những định luật được cho đối với năng lực phán đoán xác định, mà chỉ dựa trên một cơ sở của việc trình bày hay khảo sát (Erörterung-Exposition) dành cho năng lực phán đoán phản tư. – Giải thích có nghĩa là rút ra từ một nguyên tắc, vì thế, ta phải biết rõ về nguyên tắc này và có thể nêu nó ra được. Tất nhiên, nguyên tắc về cơ chế [máy móc] của Tự nhiên và nguyên tắc về tính nhân quả của nó dựa theo những mục đích ở trong một và cùng một sản phẩm tự nhiên phải nối kết với nhau trong một nguyên tắc duy nhất, cao hơn, làm nguồn suối chung của chúng, bởi, nếu khác đi, chúng không thể tồn tại bên cạnh nhau ở trong việc quan sát về Tự nhiên. Nhưng, nếu nguyên tắc [cao hơn] này, một cách khách quan chung cho cả hai, – vì thế bảo đảm sự nối kết của các châm ngôn của việc nghiên cứu Tự nhiên dựa vào cả hai – phải là cái, dù có thể được chỉ ra, nhưng lại không thể được biết đến một cách xác định và được vạch ra một cách rõ ràng để sử dụng cho các trường hợp nảy sinh, nên, từ một nguyên tắc như thế, ta không thể rút ra sự giải thích nào cả, nghĩa là, không thể rút ra một cách rõ ràng, xác định về khả thể của sản phẩm tự nhiên tương ứng với hai nguyên tắc dị loại nói trên. Trong khi đó, nguyên tắc chung cho cả sự diễn dịch cơ giới lẫn mục đích luận chính là cái Siêu-cảm tính, phải được ta đặt làm nền móng cho Tự nhiên (Tự nhiên xét như là [tổng thể những] hiện tượng). Song, từ quan điểm lý thuyết, ta không thể hình thành một khái niệm có tính xác định và khẳng định tối thiểu nào cả về cái Siêu-cảm tính này. Vì thế, tuyệt nhiên không thể giải thích được bằng cách nào mà Tự nhiên (trong những định luật đặc thù của nó), dựa theo cái Siêu-cảm tính ấy như theo một nguyên tắc, lại tạo nên cho ta một Hệ thống có thể được nhận thức như là khả hữu hoặc bởi nguyên tắc của sự sản sinh cơ giới hoặc bởi nguyên tắc của sự sản sinh từ những nguyên nhân mục đích. | Nếu xảy ra tình huống: những đối tượng của Tự nhiên cho thấy rằng, xét về mặt khả thể của chúng, nếu ta chỉ dựa theo nguyên tắc của cơ chế máy móc (vốn luôn yêu sách đối với bất kỳ thực thể tự nhiên nào) thì không thể nào suy tưởng về chúng được mà không dựa vào các mệnh đề mục đích luận, thì ta chỉ có thể đề ra một giả thuyết mà thôi. | Đó là: ta giả định rằng ta có thể hy vọng tìm hiểu các định luật tự nhiên bằng cách quy chiếu đến cả hai nguyên tắc (dựa theo khả thể rằng sản phẩm ấy là có thể nhận thức được bằng nguyên tắc này hoặc nguyên tắc kia) mà không đụng phải vẻ mâu thuẫn nảy sinh giữa hai nguyên tắc phán đoán về chúng. | Bởi vì, chí ít vẫn được đảm bảo về khả năng là cả hai nguyên tắc đều có thể được hợp nhất một cách khách quan ở trong một nguyên tắc [chung], bởi cả hai đều liên quan đến những hiện tượng vốn cùng tiền-giả định một cơ sở siêu-cảm tính. Vậy, cơ chế [máy móc] và kỹ thuật mục đích luận (hữu ý) của Tự nhiên, đối với cùng một sản phẩm và khả thể của nó, có thể cùng phục tùng một nguyên tắc tối cao chung của Tự nhiên trong những định luật đặc thù. | Nhưng, vì lẽ nguyên tắc này là siêu việt (transzendent), nên, do sự giới hạn của giác tính chúng ta, ta không thể hợp nhất cả hai nguyên tắc trong việc giải thích về cùng một sự sản sinh tự nhiên, cho dù khả thể nội tại của sản phẩm này chỉ có hiểu được hay khả niệm (verständlich) thông qua một tính nhân quả dựa theo những mục đích (như trong trường hợp vật chất có tổ chức). Do đó, nguyên tắc trên đây của mục đích luận vẫn là: dựa theo đặc điểm cấu tạo của giác tính con người, không có nguyên nhân nào ngoài những nguyên nhân hành động một cách có chủ ý là có thể được giả định cho khả thể của những thực thể có tổ chức trong Tự nhiên; và, cơ chế máy móc đơn thuần của Tự nhiên không thể hoàn chỉnh để giải thích những sản phẩm này của nó. | Thế nhưng, ta lại không được mong muốn quyết định điều gì bằng mệnh đề cơ bản này về khả thể của bản thân những sự vật như thế. Do nguyên tắc này chỉ là một châm ngôn của năng lực phán đoán phản tư chứ không phải của năng lực phán đoán xác định, nên nó chỉ có giá trị một cách chủ quan cho ta mà thôi, chứ không có tính khách quan cho khả thể của bản thân những sự vật thuộc loại này (trong đó, cả hai loại sản sinh đều có thể kết hợp trong một và cùng một cơ sở). | Ngoài ra, bên cạnh phương pháp sản sinh được quan niệm theo kiểu mục đích luận không thể đồng thời có quan niệm nào về cơ chế máy móc của Tự nhiên để phán đoán về loại sản sinh này như một sản phẩm tự nhiên. | Do đó, tuy châm ngôn trên đây dẫn đến sự tất yếu của một việc hợp nhất cả hai nguyên tắc trong khi phán đoán về những sự vật như là những mục đích tự nhiên, nhưng không dẫn đến việc thay thế toàn bộ hay từng phần nguyên tắc này bằng nguyên tắc kia. Vì, nơi chỗ của những gì được suy tưởng (chí ít là bởi chúng ta) như là chỉ có thể có được là nhờ có mục đích hữu ý, ta không thể đặt cơ chế máy móc vào; và cũng thế, nơi chỗ của những gì được nhận thức như là tất yếu và máy móc, ta không thể đặt vào đấy tính bất tất, là cái gì vốn cần đến một mục đích làm cơ sở xác định, trái lại, ta chỉ có thể đặt cái này (cơ chế máy móc) vào dưới cái kia (kỹ thuật hữu ý), như là điều hoàn toàn có thể xảy ra dựa theo nguyên tắc siêu nghiệm của tính hợp mục đích của Tự nhiên. Bởi vì, ở đâu những mục đích được suy tưởng như là các cơ sở cho khả thể của một số sự vật nào đó, ta cũng phải giả định có những phương tiện, mà quy luật hành động của chúng tự mình không đòi hỏi phải tiền giả định một mục đích, – tức định luật cơ giới –, và phương tiện ấy có thể là một nguyên nhân phụ thuộc cho các kết quả có chủ ý. Vì thế, trong những sản phẩm hữu cơ của Tự nhiên, và nhất là do số lượng vô tận của chúng, ta giả định (hay chí ít cũng là một giả thuyết được cho phép) cái Hữu ý trong sự nối kết những nguyên nhân tự nhiên bằng những định luật đặc thù như là một nguyên lý phổ biến của năng lực phán đoán phản tư đối với toàn bộ giới Tự nhiên (Thế giới), ta có thể suy tưởng về một sự nối kết vĩ đại và thậm chí phổ biến giữa những định luật cơ giới và những quy luật mục đích luận trong các hành vi sản sinh của Tự nhiên mà vẫn không hề lẫn lộn các nguyên tắc để phán đoán chúng và thay nguyên tắc này vào chỗ của nguyên tắc kia. | Bởi vì, trong một sự phán đoán mục đích luận, vật chất hay chất liệu – cho dù hình thức của chất liệu này được xem như chỉ có thể có được nhờ mục đích hữu ý – vẫn có thể cứ tuân theo những định luật cơ giới của bản tính tự nhiên của nó, nhưng lại phục tùng như một phương tiện cho mục đích được hình dung. | Nhưng, vì lẽ cơ sở của sự tương hợp này không nằm trong cái này lẫn trong cái kia (tức cơ chế máy móc và sự nối kết hợp mục đích), mà là cái cơ chất siêu-cảm tính của Tự nhiên mà ta không có chút hiểu biết nào, nên cả hai phương thức hình dung về khả thể của những đối tượng như thế tất không phải được hợp nhất lại do lý tính của (con người) chúng ta. | Tuy nhiên, ta lại không thể phán đoán về khả thể của chúng bằng cách nào khác hơn là xem chúng dựa tối hậu vào một Giác tính tối cao trong việc nối kết những nguyên nhân mục đích; và với cách phán đoán như thế, phương pháp giải thích mục đích luận không hề bị loại bỏ. Còn đối với câu hỏi: cơ chế máy móc của Tự nhiên, với tư cách là phương tiện, đóng góp bao nhiêu vào cho mỗi mục đích hữu ý của Tự nhiên thì câu trả lời là bất định, và, đối với giác tính con người chúng ta, sẽ mãi mãi là bất định. | Tuy nhiên, căn cứ vào nguyên tắc khả niệm nói trên về khả thể của một giới Tự nhiên nói chung, ta có thể giả định rằng điều này là hoàn toàn khả hữu dựa theo hai loại quy luật nhất trí với nhau một cách phổ biến (quy luật vật lý và quy luật của nguyên nhân mục đích), mặc dù ta không thể nhận rõ được phương cách này diễn ra như thế nào. | Do đó, ta không biết phương pháp giải thích cơ giới khả hữu cho ta có thể mở rộng đến đâu. | Chỉ có điều chắc chắn là: ta càng đi xa đến đâu theo hướng này, ta càng thấy những sự vật được ta thừa nhận trước đây như là những mục đích tự nhiên là không đầy đủ; và vì thế, do đặc tính cấu tạo của giác tính chúng ta, ta phải đặt những cơ sở [cơ giới] này, một cách toàn bộ, vào dưới một nguyên tắc mục đích luận. Đây chính là nền móng để đặt trên đó một thẩm quyền ưu việt, và, do tầm quan trọng của việc nghiên cứu về Tự nhiên bằng nguyên tắc của cơ chế tự nhiên đối với việc sử dụng lý thuyết của lý tính chúng ta, đồng thời cũng là một sứ mệnh: ta phải nỗ lực giải thích mọi sản phẩm và diễn trình trong Tự nhiên, kể cả những gì có tính hợp mục đích nhất đi nữa, bằng cơ chế tự nhiên trong phạm vi tối đa của năng lực của ta (mà các giới hạn (Schranken)* của nó cũng không thể được xác định rạch ròi được trong loại nghiên cứu này). | Nhưng, đồng thời, ta cũng không bao giờ được phép quên rằng: những sự vật mà ta không thể tìm hiểu cách nào ngoài cách đặt chúng vào dưới khái niệm về một mục đích của lý tính, thì, phù hợp với căn tính của lý tính chúng ta, bất chấp những nguyên nhân cơ giới, đều rút cục phải được ta buộc chúng phục tùng tính nhân quả dựa theo những mục đích. (Hết) Bùi Văn Nam Sơn dịch Nguồn: Immanuel Kant. Phê phán năng lực phán đoán (Mỹ học và Mục đích luận). Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Hà Nội: Nxb. Tri Thức, 2006. * chữ: (“tức của một vị Thượng đế”) được Kant thêm vào cho ấn bản B và C (lần thứ hai và thứ ba). (N.D). * (bên ngoài khái niệm này): được Kant thêm vào cho ấn bản B và C. (N.D). ** Xem thêm “Các định đề của tư duy thường nghiệm nói chung” (Kant, Phê phán Lý tính thuần túy, B266 và tiếp), theo đó các phạm trù về hình thái (Modalität) như “khả năng”, “hiện thực”, “tất yếu” chỉ diễn tả mối quan hệ của chúng với quan năng nhận thức thôi chứ không làm tăng thêm hay mở rộng gì cho khái niệm nhằm xác định đối tượng cả. (N.D). * Xem Kant, Phê phán Lý tính thuần túy, B72: Phân biệt giữa trực quan của con người như là trực quan cảm tính, phái sinh (intuitus derivativus) với trực quan của thần thánh như là trực quan căn nguyên, trí tuệ (intuitus originarius). (N.D). * Câu trong ngoặc tròn ( ) là do Kant thêm vào cho các ấn bản B và C. (N.D). * Không gian chỉ là điều kiện mô thức của trực quan của chủ thể về những sự vật. Xem Kant, Phê phán Lý tính thuần túy. (Cảm năng học siêu nghiệm. Khảo sát siêu nghiệm về khái niệm không gian, B40 và tiếp). (N.D). * tức dùng nguyên nhân mục đích để giải thích tính hợp mục đích. (N.D). * Bestimmung: sự quy định, vận mệnh; ở đây, chúng tôi dịch là “ý hướng và mục đích” để có ý nhấn mạnh. (N.D). ** Heuristik: (nguyên gốc Hy Lạp: heurískein: phát hiện, tìm ra) chỉ nghệ thuật khám phá (La Tinh: “ars inveniendi”) tức môn học về các phương cách để giải quyết vấn đề, chứng minh hoặc bác bỏ những nội dung thường nghiệm hoặc không thường nghiệm của các khoa học. Môn học hỗ trợ khám phá này chỉ sử dụng các loại suy, phỏng đoán, các giả thiết làm việc, các mô hình… để thử tìm hiểu sự vật. Chẳng hạn, Kant sử dụng nguyên tắc về tính có mục đích, giả định các sự kiện trong tự nhiên đều ở trong mối quan hệ mục đích luận để nhờ đó tìm ra những định luật tự nhiên. Ngày nay, các nguyên tắc và phương pháp hỗ trợ khám phá (heuristische Prinzipien) vẫn được ưa chuộng và cũng chỉ có tính hỗ trợ, giả định mà thôi. (N.D). * Trong thuật ngữ của Kant, các giới hạn (Schranken) là biên độ có thể thay đổi của nhận thức con người, khác với “các ranh giới” (Grenzen) là phạm vi không thể vượt qua được của các quan năng nhận thức. (N.D). |
Bài mới
- Tôi Tin Vào Điều Gì [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [1]
- Tôi Tin Vào Điều Gì [1]
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 5]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §75-§78]
- Bước ngoặt ngữ nghĩa học của Kant
- Tương lai của Lý luận văn học
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 4]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §69-§74]
- Về ngữ nghĩa học siêu nghiệm vượt khỏi Phê phán lý tính thuần túy
- Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết [phần 2]
- Hiện tượng
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.I, §65-§68]
- Liên tưởng (sự)









