Thông tin người dùng
Đăng nhập
Lượt truy cập






![]() | Hôm nay | 90 |
![]() | Hôm qua | 96 |
![]() | Tuần này | 289 |
![]() | Tháng này | 834 |
![]() | Tất cả | 52909 |
Thứ hạng của website
Thành viên Online
Hiện có 8 khách Trực tuyến| Tôi Tin Vào Điều Gì [1] |
|
|
|
|
Doxa.com.vn xin giới thiệu đến các bạn đọc tác phẩm "Tôi tin vào điều gì" của Tác giả Bertrand Russell, được dịch theo nguyên bản tiếng Anh "What I Believe" do anh Huỳnh Duy Thanh [thành viên nhóm doxa] dịch. Sau dây là toàn văn bản dịch:
Tôi Tin Vào Điều Gì
‘Bertrand Russell cho tôn giáo là do một nỗi khiếp sợ mang tính nguyên thủy trước điều chưa biết và khát khao một người anh nhân hậu đứng cạnh bên chúng ta’ - The Age
‘Bertrand Russell là nhà triết học viết văn xuôi tiếng Anh hay nhất thế kỷ hai mươi’ - Anthony Howard, The Times
Mục lục
Mục lục
Mục lục Lời tựa I. Tự nhiên và Con người II. Cuộc đời Thiện hảo III. Những Quy tắc Luân lý IV. Sự cứu độ: Cá nhân và Xã hội V. Khoa học và Hạnh phúc
Lời Tựa
Trong quyển sách nhỏ này, tôi cố gắng trình bày những điều tôi nghĩ về vị thế con người trong hoàn vũ, và về những con đường khả dĩ để thành tựu một cuộc đời thiện hảo. Trong tác phẩm Incarus, tôi đã giãi bày nỗi lo sợ của tôi, trong tác phẩm này tôi giãi bày niềm hy vọng của tôi. Trông như chưa nhất quán chỉ là vẻ bề ngoài. Trừ ra trong khoa thiên văn, loài người chưa có thuật thấy trước tương lai; trong chuyện nhân sự, chúng ta có thể thấy biết có những lực lượng mang lại hạnh phúc, và những lực lượng đem tới khổ đau. Chúng ta không biết cái nào sẽ chiếm ưu thế, nhưng để hành động khôn ngoan thì chúng ta cần phải nhận ra cả hai.
Ngày 1 tháng 1 năm 1925 B.R.
1
Tự Nhiên Và Con Người
Con Người là một bộ phận của Tự Nhiên, chứ không phải cái gì đối lại với Tự Nhiên. Những tư tưởng và chuyển động thân xác của con người cũng tuân theo những định luật giống y các định luật mô tả các chuyển động của tinh tú và nguyên tử. Thế giới vật lý quá cao rộng so với Con Người- cao rộng hơn cả những gì người ta từng nghĩ vào thời Dante,[I] nhưng hình như vĩ đại thua người ta tưởng tượng hồi một trăm năm trước. Có vẻ như khoa học đã vươn đến giới hạn cả theo chiều hướng lên lẫn chiều hướng xuống, cả theo tầm vĩ mô lẫn tầm vi mô. Người ta nghĩ rằng phạm vi không gian của hoàn vũ là hữu hạn, và ánh sáng có thể du hành vòng quanh hoàn vũ trong chừng vài trăm triệu năm. Người ta nghĩ rằng vật chất gồm electron và proton, chúng có kích thước hữu hạn và chỉ có một số lượng hữu hạn trong hoàn vũ. Có lẽ những biến đổi của chúng không liên tục như người ta từng nghĩ, mà theo bước nhảy, những bước nhảy này không bao giờ nhỏ hơn bước nhảy tối thiểu nào đó. Hình như có thể thu gọn các định luật về biến đổi thành một số nhỏ nguyên lý rất tổng quát, các nguyên lý này xác định quá khứ và tương lai của thế giới một khi đã biết bất kỳ giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nào của nó. Như vậy, khoa vật lý học đang tiến triển đến giai đoạn sắp hoàn chỉnh, cho nên chẳng còn chi lý thú nữa. Cho sẵn các định luật chi phối chuyển động của electron và proton, phần công việc còn lại chẳng qua là mô tả địa lý- một tập hợp sự kiện cụ thể cho chúng ta biết chúng phân phối ra sao xuyên suốt lịch sử của một phần nào đó của thế giới. Toàn bộ số sự kiện địa lý đòi hỏi ngõ hầu xác định lịch sử thế giới có lẽ hữu hạn; về mặt lý thuyết mà nói thì có thể biên hết tất cả ra một quyển sách lớn và lưu giữ ở Somerset House cùng với một cỗ máy tính kèm theo mà chỉ cần vặn nút một cái thôi cũng giúp người nghiên cứu tìm ra những sự kiện ở thời khác với các thời đã được ghi nhận. Thật khó mà tưởng tượng ra cái gì đó còn chán ngắt hơn hay còn khác biệt hơn niềm thỏa lòng mê say của sự khám phá không trọn vẹn. Giống như trèo leo lên một đỉnh núi cao chót vót để rồi thấy rằng trên đỉnh ấy chẳng có chi ngoài một nhà hàng bán bia gừng, bị sương mù che phủ mà lại có trang bị vô tuyến. Có lẽ trong thời Ahmes[II] bảng cửu chương đã từng gây nhiều hứng thú. Con Người là một bộ phận của thế giới vật lý này, thế giới tự thân vốn chẳng thú vị gì. Giống như vật chất khác, thân xác con người gồm electron và proton, theo như chúng ta biết thì chúng cũng tuân theo các định luật giống hệt chi phối những gì ngoài giới động vật và thực vật. Có ai đó bảo rằng giảm trừ sinh lý học về vật lý học là chuyện không thể, nhưng họ lập luận chưa thuyết phục lắm và coi bộ nên thận trọng mà giả sử họ đã ngộ nhận. Cái chúng ta gọi là ‘tư tưởng’ có vẻ như phụ thuộc vào tổ chức của những đường rãnh trong não bộ tựa như kiểu hành trình phụ thuộc vào những đường phố và đường sắt vậy. Năng lượng sử dụng trong tư duy hình như có nguồn gốc hóa học; chẳng hạn, thiếu Iốt biến người thông minh thành kẻ ngu đần. Các hiện tượng tinh thần dường như gắn liền với cấu trúc vật chất. Nếu vậy thì chúng ta không thể giả sử rằng một electron hay proton độc nhất có thể “tư duy”; cho dù chúng ta có thể mong đợi một cá nhân duy nhất chơi trận túc cầu như thường. Chúng ta cũng không thể giả sử rằng một cá nhân vẫn còn tư duy sau khi thân xác đã chết, vì đã chết thì tổ chức của não bộ bị tan rã, và năng lượng sử dụng các khe não cũng bị thất tán. Thiên Chúa và tính bất tử, các giáo điều trung tâm của đạo Thiên Chúa, không tìm thấy tiếng nói ủng hộ nào trong khoa học. Chúng ta đâu thể nào nói đã là tôn giáo thì chẳng thể thiếu một trong hai học thuyết này, bởi vì trong đạo Phật cả hai đều chẳng có. (Đối với tính bất tử, phát biểu trong hình thức hạn chế này có thể gây ngộ nhận, nhưng nó đúng đắn trong phép phân tích chung cục). Nhưng chúng ta ở phương Tây lại tưởng rằng chúng là bộ phận thần học tối thiểu không thể giảm trừ. Chắn chắn người ta vẫn tiếp tục ôm giữ các niềm tin này, bởi vì chúng đem lại cho người ta cảm giác dễ chịu, cũng ví như dễ chịu lúc nghĩ bản thân mình đức hạnh còn kẻ thù thì độc ác. Nhưng riêng tôi, tôi thấy cả hai học thuyết đó đều vô căn cứ. Tôi không giả vờ có thể chứng minh được Thiên Chúa không tồn tại. Cũng vậy, tôi cũng không thể chứng minh Satan là một giả tưởng. Thiên Chúa của đạo Thiên Chúa có thể hiện hữu; các vị thần của đỉnh Olympus, của người Ai Cập xưa, của Babylon biết đâu cũng vậy. Nhưng không một giả thuyết nào mang xác suất cao hơn một giả thuyết nào: chúng nằm ngoài vùng tri thức, kể cả tri thức chỉ mang tính xác suất, cho nên không lý do gì phải xét đến. Tôi không khai triển câu hỏi này là vì tôi đã thảo luận ở nơi khác.[1] Nghi vấn về tính bất tử của con người đứng trụ trên một thế đứng hơi khác. Ở đây chứng cứ theo hai chiều hướng, chiều hướng nào cũng đều có thể có cả. Con người là bộ phận của thế giới thường nhật mà khoa học quan tâm, và có thể khám phá ra các điều kiện nhằm xác định liệu con người hiện hữu hay không. Một giọt nước không bất tử; nó có thể bị phân giải thành oxy và hydro. Cho nên nếu ai đó nói một giọt nước vẫn còn tính nước sau khi đã bị phân giải, chúng ta hẳn thấy nghi ngờ lắm thay. Giống như vậy, chúng ta biết não bộ không bất tử, và có thể nói một khi đã chết thì năng lượng tổ chức của cơ thể sống cũng bị thất tán, thành ra đâu thể nào còn hoạt dụng được. Tất cả chứng cứ đều đi theo chiều hướng tỏ lộ rằng cái chúng ta ngỡ như đời sống tinh thần của mình vốn gắn liền với cấu trúc não bộ và năng lượng tổ chức thân xác. Vì thế, hẳn là hợp lý để ta giả sử rằng đời sống tinh thần chấm dứt khi đời sống thân xác kết thúc. Lập luận này chỉ mang tính xác suất, thế nhưng đó là lập luận mạnh mẽ hơn cả làm cơ sở cho kết luận mang tính khoa học nhất. Có nhiều nền tảng có thể dùng làm căn cứ để tấn công lập luận này. Nghiên cứu tâm linh tuyên xưng có chứng cứ hiện thực phù hợp với khoa học về sự sống sót sau khi chết, và về nguyên tắc mà nói thì chắn hẳn thủ tục của nó đúng đắn theo khoa học. Chứng cứ loại này có thể phong phú đến độ không ai mang tính khí khoa học mà chịu đi bác bỏ. Tuy nhiên, trọng lượng gán cho chứng cứ đó lại tùy thuộc vào giả thuyết về sự sống sót có khả năng xảy ra trước rồi. Bao giờ cũng có những mấy cách khác nhau để lý giải bất kỳ tập hợp hiện tượng nào, và trong đó chúng ta nên ưu tiên cách nào nhiều khả năng xảy ra cao hơn cả đến trước. Những ai sẵn nghĩ rất có khả năng chúng ta vẫn sống sót sau khi chết đã sẵn sàng xem lý thuyết này như lời giải thích tốt nhất về hiện tượng tâm linh. Những ai dựa vào những nền tảng khác, do đó xem lý thuyết này vô lý, sẽ tìm kiếm lời giải thích khác. Về phần mình, tôi xem chứng cứ do nghiên cứu tâm linh viện dẫn từ trước tới nay để binh vực thuyết sống sót kém sức thuyết phục thua chứng cứ tâm lý từ phía đối lập. Nhưng tôi thừa nhận trọn vẹn rằng lúc nào nó cũng có thể trở thành thuyết phục hơn, và trong trường hợp đó không chịu tin vào thuyết sống sót sau khi chết là phản khoa học. Tuy nhiên, sống sót sau khi thân xác đã chết là chuyện khác với bất tử: nó có thể bất quá nghĩa là làm chậm cái chết về mặt tâm linh. Con người khát khao chính là tính bất tử. Tín đồ của thuyết bất tử sẽ bác lại những lập luận sinh lý học, chẳng hạn như tôi đang dùng, trên cơ sở linh hồn và thân xác hoàn toàn tách biệt, và linh hồn là cái gì đó khá khác với những biểu lộ thường nghiệm của nó thông qua các cơ quan thân xác chúng ta. Tôi tin đây là một mê tín siêu hình. Tâm trí và vật chất giống nhau ở chỗ đều là những thuật ngữ thuận tiện phục vụ mục đích nào đấy, chứ chưa phải thực tại tối hậu. Electron và proton, giống như linh hồn, là những hư cấu logic; từng cái một thật ra là một lịch sử, một chuỗi sự kiện, chứ không phải một thực thể thường trụ đơn lẻ. Trong trường hợp linh hồn, điểm này cho ta thấy rõ qua các cứ liệu về sinh trưởng. Bất kỳ ai suy gẫm về sự thụ thai, thời kỳ thai nghén, thời đồng ấu đều không thể nào thật sự tin nổi rằng linh hồn là cái gì đó bất khả phân chia, hoàn hảo và hoàn chỉnh xuyên suốt quá trình này. Đương nhiên nó cũng tăng trưởng đâu khác thân xác, và nó là sản phẩm của tinh trùng và trứng, thành ra đâu thể nào là bất khả phân chia. Đây không phải chủ nghĩa duy vật: chẳng qua là chúng ta nhận ra vấn đề tổ chức là hết thảy những gì cần quan tâm, chớ không phải bản thể sơ cấp. Nhiều nhà siêu hình phát triển vô số lập luận nhằm chứng minh linh hồn phải bất tử. Có một phép kiểm tra đơn giản có thể bác đi hết các lập luận này. Tất cả đều chứng minh linh hồn phải dàn trải trong không gian. Nhưng chúng ta nào e ngại được sống lâu như bị phát phì, chưa một nhà siêu hình nào từng chú ý đến ứng dụng này của cách lập luận của họ. Đây là một ví dụ về quyền năng phi phàm của dục vọng mù quáng muốn sa ngã vào ngụy biện, thậm chí ở những bậc tài tuấn nhất, có điều đã ưng chịu theo cách khác thì những ngụy biện này liền sáng tỏ ngay lập tức. Nếu chúng ta chả sợ chết, tôi tin chẳng cần bày đặt ra chi ý niệm bất tử. Khiếp sợ là nền tảng của giáo điều tôn giáo, cũng như của nhiều thứ khác trong đời người. Nỗi khiếp sợ trước con người, cá nhân hay tập thể, chi phối đời sống xã hội của chúng ta nhiều lắm, nhưng chính nỗi khiếp sợ trước thiên nhiên mới khai sinh ra tôn giáo. Như chúng ta đã thấy, cặp tương phản tâm trí và vật chất ít nhiều mang tính ảo tưởng; nhưng có thêm cặp tương phản nữa then chốt hơn- đó là những gì dục vọng của chúng ta có thể tác động và những gì không thể tác động- khi khoa học càng tiến bộ thì con người càng thêm khả năng điều khiển càng nhiều thứ. Tuy nhiên, vẫn còn có những thứ nhất định nằm ở ranh giới bên kia. Trong số này có một số lượng bao la cứ liệu về thế giới chúng ta, loại cứ liệu làm đối tượng cho thiên văn học. Chỉ những cứ liệu ở trên hay gần bề mặt địa cầu, chúng ta mới có thể rèn đúc, ở chừng mực nào đó, sao cho phù hợp với dục vọng của mình. Và thậm chí trên bề mặt địa cầu, năng lực của chúng ta cũng còn hạn chế lắm. Đặc biệt, chúng ta chưa thể ngăn chặn cái chết, mặc dù chúng ta thường có thể làm chậm lại. Tôn giáo là một nỗ lực vượt qua cặp tương phản này. Nếu thế giới do Thiên Chúa điều khiển, và Thiên Chúa có thể bị lời cầu nguyện lung lay, thì chúng ta có được phần nào toàn năng ấy chứ. Ngày trước, phép mầu xảy ra là để đáp lại lời cầu nguyện; chúng vẫn còn đấy thôi trong Nhà Thờ Công Giáo, nhưng người Tin Lành thì đã mất quyền năng này. Tuy nhiên, có thể bỏ đi phép mầu, vì Thiên Mạng đã khải thị rằng vận hành của định luật tự nhiên sẽ tạo ra kết quả khả hữu tốt nhất. Như vậy, niềm tin vào Thiên Chúa vẫn phục vụ cho cuộc nhân cách hóa thế giới tự nhiên, và khiến cho con người cảm thấy những lực lượng vật lý thật sự là đồng minh của họ. Cũng theo cách đó, tính bất tử trừ khử nỗi khiếp sợ cái chết. Chúng ta có thể xem những ai mà tin tưởng khi chết họ được thường lạc thì người đó chẳng sợ chết, mặc dù may mắn thay cho mấy tay thầy thuốc, điều này nào đâu bất di bất dịch xảy ra. Tuy nhiên, nó phần nào làm nguôi ngoai nỗi khiếp sợ của người ta mặc dù chưa thể tiêu trừ hoàn toàn. Tôn giáo, vì vốn có căn nguyên từ khiếp sợ, phẩm giá hóa những kiểu khiếp sợ nào đó, và khiến người ta nghĩ chúng đâu phải điều chi ô nhục. Ở đây, nó báo hại loài người vô cùng: tất cả khiếp sợ đều xấu xa. Tôi tin khi chết tôi cũng bị thối rữa như ai, và không gì trong bản ngã của tôi sống sót. Tôi đâu còn trẻ trung, và tôi mến yêu cuộc đời. Nhưng tôi sẽ coi nhẹ cái rùng mình run rẩy vì khiếp sợ khi suy nghĩ đến lúc lìa đời. Tuy vậy, sở dĩ hạnh phúc là hạnh phúc chân thật bởi lẽ nó phải đi đến kết thúc, cả tư tưởng lẫn tình yêu đều đâu mất đi giá trị chỉ vì chúng không kéo dài mãi mãi. Nhiều người tự hào vì đã hiến mình trên đoạn lầu đài; hẳn nhiên chính lòng tự hào đó cũng răn dạy chúng ta suy nghĩ cho đúng về vị thế con người trong hoàn vũ. Thậm chí nếu khoa học có mở toang những cánh cửa sổ mà thoạt tiên có làm chúng ta rùng mình đi nữa vì đã quen rồi cái ấm áp dễ chịu đằng sau khung cửa của những truyền thuyết truyền thống đã được nhân hóa, thì rốt cục không trí trong lành cũng sẽ đem lại sinh lực, và không gian bao la cũng mang nét tráng lệ của riêng mình. Triết học tự nhiên là một chuyện, triết học giá trị lại là một chuyện khác. Đã nhầm lẫn thì chớ được gì hơn ngoài lãnh chịu thiệt thòi. Chúng ta nghĩ tốt hay yêu thích sự vật, nhưng đó chỉ là những giá trị chúng ta gán thôi, chớ còn sự vật tồn tại ra sao là câu hỏi dành cho triết học tự nhiên. Mặt khác, chúng ta nào đâu thể cấm đoán giá trị này hay nọ dựa trên cơ sở thế giới khách quan chẳng đánh giá cao, chúng ta cũng không bị ép buộc phải ngưỡng mộ điều gì chỉ vì đó là một “định luật tự nhiên”. Hẳn nhiên chúng ta là bộ phận của tự nhiên, thế giới đã gây ra khát vọng, hi vọng và khiếp sợ của chúng ta, tuân theo những định luật mà những nhà vật lý đang bắt đầu khám phá ra được. Theo ý này, chúng ta là bộ phận của tự nhiên, chúng ta tuân theo tự nhiên, là kết quả của định luật tự nhiên, và rồi rốt cuộc sẽ là nạn nhân của định luật tự nhiên. Triết học tự nhiên phải chớ bị hạn định quá mức chỉ bận tâm đến những gì trên mặt đất; đối với giới tự nhiên bao la, địa cầu chẳng qua chỉ là một trong những hành tinh nhỏ nhoi của một trong những tinh cầu bé nhỏ trong Dãy Ngân Hà. Có ngớ ngẩn mới đẩy lệch lạc triết học tự nhiên ngõ hầu thu được những kết quả làm vừa lòng những sinh linh bé mọn trên một hành tinh chẳng quan trọng gì. Về phương diện này, thuyết sinh lực xét như một triết lý cùng với thuyết tiến hóa tỏ ra đã chẳng quan niệm cho xác đáng theo tỷ lệ và logic. Chúng xem những sự kiện đời sống, vốn chỉ cá nhân chúng ta bận tâm mà thôi, như chất chứa một ý nghĩa tầm vóc vũ trụ, chứ không phải một ý nghĩa chỉ giới hạn trên bề mặt địa cầu. Chủ nghĩa lạc quan và chủ nghĩa bi quan, xét như những triết lý về hoàn vũ, đều cho thấy một chủ nghĩa nhân bản ngây thơ in hệt; theo như chúng ta biết từ triết học tự nhiên, thế giới bao la không thiện không ác, và cũng chẳng đoái hoài chúng ta hạnh phúc hay phiền não. Tất cả mấy triết lý như vậy phát sinh từ việc tự cho mình quan trọng, và có thể được chấn chỉnh tốt nhất nhờ chút ít kiến thức thiên văn học. Có điều trong triết học giá trị, tình thế đảo ngược lại. Tự Nhiên giờ chỉ là một bộ phận của những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra; mọi thứ, dù hiện thực dù phù ảo, đều có thể được chúng ta ca ngợi, và không một tiêu chuẩn ngoại tại nào tỏ lộ rằng chúng ta đánh giá sai. Bản thân chúng ta là thẩm phán giá trị tối thượng và bất khả phi bác, và trong thế giới giá trị, Tự Nhiên chỉ là một bộ phận. Vì vậy, trong thế giới này chúng ta cao đại hơn Tự Nhiên. Trong thế giới giá trị, Tự Nhiên tự thân trung tính, không thiện không ác, không đáng sùng bái hay bị chỉ trích. Chính chúng ta tạo ra giá trị và dục vọng của chúng ta ban phát giá trị. Trong vương quốc này, chúng ta là bậc vương hầu, và chúng ta hạ thấp vương quyền nếu hạ mình trước Tự Nhiên. Chính chúng ta xác định cuộc đời thiện hảo, chứ không phải Tự Nhiên- kể cả Tự Nhiên có được nhân cách hóa thành Đấng Thiên Chúa đi nữa.
2 Cuộc Đời Thiện Hảo
Tùy thời tùy người mà có nhiều quan niệm khác biệt về cuộc đời thiện hảo. Phép lập luận có thể giảm bớt khác biệt ở chừng mực nhất định; đấy là khi người ta khác biệt về phương tiện để đạt được một cứu cánh cho sẵn. Có người nghĩ ngục tù là cách thức tốt để ngăn ngừa tội ác; người khác bảo giáo dục là con đường tốt hơn. Nhờ đủ chứng cứ, chúng ta có thể quyết định khác biệt kiểu này. Nhưng một số khác biệt không thể kiểm tra bằng phương sách này. Tolstoy lên án chiến tranh; những người khác binh cuộc đời người lính chiến đấu để vinh danh lẽ phải. Ở đây có lẽ quả thật đã đụng chạm đến khác biệt về cứu cánh. Những ai ca ngợi người lính thì người đó thường coi hình phạt dành cho kẻ phạm tội là một điều thiện tự thân; Tolstoy chẳng nghĩ vậy. Một vấn đề như thế này là không thể tranh luận. Vì vậy, tôi không thể chứng minh cái nhìn của tôi về cuộc đời thiện hảo là đúng; tôi chỉ có thể phát biểu quan điểm của mình, và hi vọng có càng nhiều bạn đồng ý với tôi càng hay. Quan điểm của tôi như thế này: Cuộc đời thiện hảo là cuộc đời do tình yêu truyền cảm hứng và do tri thức hướng đạo. Cả tri thức lẫn tình yêu đều vô lượng; vì thế một cuộc đời dẫu đã tốt đẹp dường nào đi nữa thì cũng có thể tưởng tượng ra một cuộc đời tốt đẹp hơn. Cả yêu thương mà thiếu hiểu biết lẫn hiểu biết mà thiếu yêu thương cũng đều không thể tạo ra cuộc đời thiện hảo. Vào Thời Trung Cổ, khi bệnh dịch hạch xuất hiện hoành hành ở một nước nào, những bậc tu hành khuyên bảo dân chúng tụ hội ở nhà thờ và cầu nguyện để thoát khỏi cơn nguy khốn; kết quả là nạn bịnh dịch lan truyền nhanh chóng phi thường trong đám đông nguyện cầu. Đây là một ví dụ về tình yêu, mà thiếu tri thức. Cuộc đại chiến vừa rồi minh chứng cho một ví dụ về tri thức, mà thiếu tình yêu. Trong từng trường hợp một, kết quả là gây nạn chết chóc ở quy mô lớn. Mặc dù cả tình yêu lẫn tri thức đều cần thiết, nhưng theo một ý nào đó thì tình yêu mang tính căn cơ hơn, tại vì nó đưa dẫn những người thông minh đi tìm kiếm tri thức, ngõ hầu phát hiện ra phương cách giúp ích cho những người mình yêu thương như thế nào. Nhưng nhược bằng người ta không thông minh, họ sẽ vừa lòng với những điều mình được răn dạy, và biết đâu gây hại bất kể họ mang trong mình lòng thiện nguyện đích thực nhất. Có lẽ ngành y khoa trưng ra ví dụ tốt nhất về những điều tôi muốn nói. Một y sĩ giỏi là ích lợi cho một bịnh nhân hơn biết bao so với vị bằng hữu tận tụy nhất, và tiến bộ trong tri thức y khoa cống hiến lớn lao cho sức khỏe cộng đồng hơn lòng nhân ái vô tri. Tuy nhiên, ở đây cần thiết yếu tố lòng thiện nguyện kể cả nếu không ai trừ kẻ giàu sang được lợi ích nhờ khám phá khoa học. Tình yêu là một từ bao gồm nhiều tình cảm khác nhau; sở dĩ tôi đã cố tình sử dụng từ này là vì tôi muốn bao gồm hết thảy. Yêu thương xét như một cảm xúc- cũng chính là những gì tôi đang nói đến, vì rằng tôi thấy có vẻ yêu thương ‘trên nguyên tắc’ chưa phải chân thực- dao động giữa hai thái cực: cực này là sự hài lòng thuần khiết trong chiêm nghiệm; cực kia là lòng thiện nguyện thuần khiết. Nơi nào chỉ quan tâm đến bất động vật thì nơi ấy chỉ có mình sự hài lòng; chúng ta đâu thể nào dành lòng thiện nguyện cho một phong cảnh hay một bản sonata. Theo tiền giả định thì loại hưởng thụ này là nguồn gốc nghệ thuật. Thông thường ở trẻ con mãnh liệt hơn nhiều so với ở người lớn là vì người lớn có khuynh hướng nhòm ngó vật thể bằng tinh thần vị lợi. Hưởng thụ ấy đóng vai trò mấu chốt trong tình cảm của chúng ta dành cho con người, có tính cảm cao nhã có tình cảm dung tục, vào lúc con người bị ngắm nhìn đơn giản như đối tượng của chiêm nghiệm nét đẹp. Thái cực đối nghịch của tình yêu là lòng thiện nguyện thuần khiết. Nhiều người hy sinh mạng sống của mình để giúp đỡ người bịnh hủi; trong một trường hợp như thế, tình yêu họ cảm nhận đâu chứa bất kỳ yếu tố hài lòng gì về phương diện đẹp đẽ. Thường thường, tình yêu phụ mẫu đi cùng với diện mạo con cái, nhưng vẫn mãnh liệt cho dù hoàn toàn thiếu hẳn yếu tố này. Hình như có lập dị mới gọi lòng dạ quan tâm của một bà mẹ dành cho đứa con bịnh tật là “lòng thiện nguyện”, bởi vì chúng ta đã quen dùng từ này để mô tả một cảm xúc lạnh lùng chín phần bịp bợm. Nhưng khó mà tìm từ nào khác để mô tả được khát vọng tốt lành cho người khác. Sự thật là khát vọng loại này có thể vươn đến bất kỳ mức độ mãnh liệt nào trong trường hợp tình phụ mẫu. Trong những trường hợp khác, nó kịch liệt không bằng; quả vậy, dường như có nhiều khả năng tất cả cảm xúc vị tha là do tình phụ mẫu thái quá, hay đôi phen do tình phụ mẫu thăng hoa. Muốn tìm một từ tốt hơn, tôi sẽ gọi cảm xúc này là “lòng thiện nguyện”. Nhưng tôi muốn làm rõ là tôi đang nói về một cảm xúc, chứ không phải một nguyên lý, và tôi không bao hàm trong đấy bất kỳ cảm xúc ưu thắng nào như có khi gán cho từ này. Từ “thông cảm” cũng nêu lên phần nào những gì tôi muốn nói, nhưng bỏ sót yếu tố linh hoạt mà tôi muốn bao hàm vào. Tình yêu trọn vẹn nhất là một sự kết hợp không thể tách rời của hai yếu tố, sự hài lòng và thiện chí. Niềm vui sướng của bậc phụ mẫu dành cho đứa con xinh đẹp và thành đạt kết hợp hai yếu tố này; tình yêu có dục tình cao đẹp nhất cũng vậy. Có điều trong tình yêu có dục tình, lòng thiện nguyện chỉ hiện diện nơi đâu đã có sự chiếm hữu an toàn, vì bằng không thì lòng ghen tuông sẽ gây tan vỡ, trong khi biết đâu kỳ thực càng gia tăng sự hài lòng lên trong chiêm nghiệm. Sự hài lòng thiếu thiện chí có thể độc ác; thiện chí thiếu sự hài lòng dễ dàng biến thành lạnh lùng và có chút trịch thượng. Một người mơ ước được yêu thương mong mỏi thành đối tượng được yêu có chứa đủ cả hai yếu tố, trừ ra trong những trường hợp cực kỳ yếu ớt, chẳng hạn như trẻ đồng ấu và người bịnh thập tử nhất sinh. Trong những trường hợp này, có thể chỉ lòng thiện nguyện là điều duy nhất được khát khao. Ngược lại, trong những trường hợp cực kỳ mạnh mẽ, sự ngưỡng mộ được khát khao mãnh liệt hơn lòng thiện nguyện: đây là tâm tư của vương hầu thống trị và giai nhân kim cổ. Chúng ta chỉ mong cầu những thiện chí tốt đẹp từ những người khác theo đúng mức độ mà chúng ta cảm thấy mình ở trong cái thế cần được giúp đỡ và bị đe dọa gây tổn hại. Ít ra, điều đó trông như có vẻ hợp với logic về mặt sinh lý của tình huống đó, nhưng nó chưa hẳn đúng đối với cuộc đời. Chúng ta khao khát tình yêu để thoát khỏi cảm giác cô độc, để được ‘hiểu”, như chúng ta thường nói. Đây là vấn đề cảm thông, chứ không đơn thuần là lòng thiện nguyện; người mang lại tình yêu thỏa mãn cho chúng ta đâu chỉ đơn thuần mong ước chúng ta được phước lành, mà còn phải thấu hiểu chúng ta hạnh phúc cốt ở điều chi. Nhưng điều này thuộc về một yếu tố khác của cuộc đời thiện hảo, đó là tri thức. Trong một thế giới hoàn hảo, mỗi một chúng sinh hữu tình sẽ là đối tượng yêu thương trọn vẹn nhất cho mọi chúng sinh khác, bao gồm sự hài lòng, lòng thiện nguyện, niềm thông hiểu được hòa trộn một cách mật thiết lại với nhau. Chớ suy ra rằng, trong thế giới hiện thực, chúng ta phải cố gắng yêu thương như vậy đối với hết thảy chúng sinh hữu tình mà mình gặp phải. Có nhiều chúng sinh chúng ta đâu thể cảm thấy vừa lòng, do vì chúng gây ghê tởm; nếu chúng ta đi ngược lại bản tính của mình ngõ hầu nhìn thấy chúng xinh đẹp, chúng ta chẳng qua hóa trơ lì tính nhạy cảm của mình trước những gì mình tự nhiên thấy đẹp đẽ. Chưa nói chi đến con người, hãy còn có bọ chét, côn trùng, và chấy rận. Chúng ta sẽ phải bị dồn nén dữ dội như Thủy Thủ Đời Xưa (Ancient Mariner) trước khi chúng ta có thể cảm thấy hài lòng trong lúc quán sát những sinh linh này. Quả thật, một số bậc thánh đã gọi chúng là “những viên ngọc quý của Thiên Chúa”, nhưng điều làm những bậc ấy hài lòng là cơ hội để thể hiện tính thánh thiện của riêng mình. Lòng thiện nguyện dễ dàng nới mở rộng rãi hơn, nhưng đến cả lòng thiện nguyện cũng có giới hạn. Nếu một người đàn ông muốn kết hôn với một quý nương, chúng ta đâu nghĩ ổng tốt hơn nên rút lui nếu thấy có anh chàng khác cũng muốn sánh duyên cùng nàng: chúng ta sẽ coi đây như trường tranh đấu công bằng. Song le, tình cảm của ổng dành cho đối thủ chẳng thể nào hoàn toàn mang tính thiện nguyện. Tôi thiết nghĩ trong tất cả mô tả về cuộc đời thiện hảo chốn đây trên quả đất này, chúng ta phải giả sử một căn cơ cho sinh lực và bản năng động vật nào đó; thiếu vắng điều này, cuộc đời trở thành nhạt nhẽo và chẳng còn chi kỳ thú. Nền văn minh là cái gì đó được thêm vào, chớ không phải thay thế cho căn cơ đó; các bậc thánh khổ hạnh và bậc thánh xuất ly thế gian ở phương diện này chưa thể hưởng thụ hết cái thú nhân sinh. Dăm ba người trong họ có thể làm cho cộng đồng cao đẹp hơn; nhưng một thế gian chỉ toàn bậc thánh chắc sẽ chết khô chết héo vì buồn chán. Các suy xét này dẫn đường đến nhấn mạnh vào yếu tố hài lòng như một thành phần trong tình yêu cao đẹp nhất. Trong thế gian hiện thực này, tình yêu mang tính chọn lựa là điều không thể tránh khỏi, và cản trở chúng ta dành những tình cảm in hệt cho toàn nhân loại. Khi có xung đột nảy sinh giữa tình yêu và lòng thiện nguyện, thông thường chúng ta phải giải quyết bằng thỏa hiệp, chứ không nhường phần hết cho một bên nào. Bản năng có quyền riêng của mình, và nếu chúng ta xâm phạm quá đáng thì sẽ bị nó báo thù bằng những phương cách tinh vi. Vì vậy, để hướng đến một cuộc đời thiện hảo thì phải luôn hằng ghi nhớ những giới hạn của năng lực con người. Tuy nhiên, ở đây lại nữa, chúng ta lại phải quay trở về nhận định tri thức là cần thiết. Khi tôi nói đến tri thức như một thành phần của cuộc đời thiện hảo, tôi đang suy nghĩ không chỉ đến tri thức đạo đức, mà còn tri thức khoa học và tri thức về sự kiện cụ thể. Nói nghiêm ngặt, tôi nghĩ rằng vốn không có tri thức đạo đức. Nếu chúng ta ham muốn đạt được cứu cánh nào đó, tri thức có thể chỉ dẫn cho chúng ta phương tiện, và tri thức này có thể tạm thông qua lỏng lẻo như mang tính cách đạo đức. Nhưng tôi không tin chúng ta có thể quyết định loại cư xử nào phải hay quấy giả như không nhờ suy xét đến những kết quả có thể có của nó. Cho sẵn một cứu cánh nào đó, làm cách nào để đạt được cứu cánh ấy chính là câu hỏi dành cho khoa học. Tất cả các quy tắc luân lý phải được kiểm tra nhờ khảo chứng liệu chúng có hướng đến thành tựu những cứu cánh chúng ta ham muốn. Tôi nói cứu cánh chúng ta ham muốn, chớ không nói cứu cánh chúng ta phải ham muốn. Điều chúng ta “phải” ham muốn chẳng qua chỉ là điều người khác mong cầu chúng ta ham muốn. Thường thường đó là điều các uy quyền mong cầu chúng ta ham muốn- bậc cha mẹ, thầy cô ở trường, cảnh sát, và thẩm phán. Nếu anh bảo tôi “cậu phải làm thế này thế nọ”, nhận xét của anh có gây ra động lực nào hay không vốn nằm trong ham muốn của tôi được anh chấp thuận- có thể đi cùng với phần thưởng, hình phạt gắn liền với việc anh chấp thuận hay không chấp thuận. Vì tất cả hành động phát xuất từ ham muốn, cho nên rõ ràng ý niệm đạo đức đâu thể mang tầm quan trọng nào khác ngoài việc chúng gây ảnh hưởng lên ham muốn. Chúng làm được điều này thông qua ham muốn được chấp thuận và lo sợ bị phản đối. Mấy điều này là lực lượng xã hội hùng mạnh, và tự nhiên chúng ta sẽ cố gắng tranh thủ về phía mình nếu muốn đạt được bất kỳ mục đích xã hội nào. Khi bảo tính luân lý của cách cư xử được phán xét do những kết quả có thể có, tôi muốn nói rằng tôi khao khát thấy hành động nhiều khả năng đạt được những mục đích xã hội mà chúng ta ham muốn được chấp thuận, và hành động ngược lại không được chấp thuận. Hiện tại, điều này chưa thành hiện thực; có những quy tắc truyền thống người ta căn cứ vào đó để đưa ra sự chấp thuận và không chấp thuận bất chấp kết quả. Nhưng đây là một chủ đề chúng ta sẽ bàn trong phần tới. Lý thuyết đạo đức thừa thãi rõ rệt trong những trường hợp đơn giản. Thí dụ giả sử con bạn bị bịnh. Tình yêu khiến bạn muốn chữa lành bịnh, và khoa học hướng dẫn bạn biết cách chữa lành như thế nào. Không có một trạng thái trung gian nào của lý thuyết đạo đức, trong đó chứng tỏ con bạn tốt hơn nên được chữa lành. Hành động của bạn phát xuất trực tiếp từ ham muốn một cứu cánh, cùng với tri thức về phương tiện. Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi hành động, dù thiện dù ác. Các cứu cánh là khác nhau, và tri thức thích hợp ở trường hợp này chưa chắc thích hợp trong trường hợp khác. Nhưng vô phương quan niệm nổi có cách nào khiến người ta làm điều họ không muốn làm. Cái có thể thay đổi ham muốn của họ là một hệ thống thưởng phạt, trong đó sự chấp thuận và không chấp thuận của xã hội chưa hẳn có hiệu lực yếu ớt hơn cả. Vì vậy, câu hỏi dành cho nhà luân lý lập pháp là: Hệ thống thưởng phạt này sẽ được sắp đặt như thế nào để mà đạt được tối đa những gì thẩm quyền lập pháp ham muốn? Nếu tôi nói thẩm quyền lập pháp có ham muốn xấu ác, tôi chẳng qua muốn nói ham muốn của họ xung đột với ham muốn của bộ phận nào đó của cộng đồng mà tôi thuộc về. Không tồn tại tiêu chuẩn luân lý bên ngoài ham muốn con người. Như vậy, điều phân biệt đạo đức học và khoa học không phải loại tri thức đặc biệt gì hết mà chẳng qua là ham muốn. Tri thức được đòi hỏi trong đạo đức học cũng giống như tri thức ở nơi khác; nét đặc thù chính là cứu cánh nào đó mà nó ham muốn, và cách đối xử phải là những gì góp phần đạt được cứu cánh. Đương nhiên, nếu muốn cái định nghĩa cách đối xử phải gây chú ý sâu rộng, các cứu cánh phải là điều phần đông nhân loại ham muốn. Nếu tôi định nghĩa cách đối xử phải như những gì giúp tăng thêm thu nhập của tôi, quý độc giả chắc sẽ đâu chịu bằng lòng. Toàn bộ tính hiệu lực của bất kỳ lập luận đạo đức nào nằm ở bộ phần mang tính khoa học của nó, nghĩa là ở chứng minh một loại cách đối xử, chứ không phải loại khác, là một phương tiện cho một cứu cánh mà phần đông ham muốn. Tuy nhiên, tôi phân biệt giữa lập luận đạo đức và giáo dục đạo đức. Giáo dục cốt ở đẩy mạnh một số ham muốn nào đó và giảm thiểu một số khác. Đây là một quá trình hơi khác, sẽ được thảo luận riêng trong phần sau. Giờ đây tôi có thể giải thích chính xác hơn ngụ ý của định nghĩa về cuộc đời thiện hảo mà chương này đã khởi đầu thảo luận. Khi tôi nói cuộc đời thiện hảo gồm tình yêu do tri thức hướng đạo, ham muốn thúc dục tôi là ham muốn sống trong một đời sống như thế càng lâu càng tốt, và thấy những người khác cũng sống như vậy; và nội dung logic của phát biểu đó là, trong một cộng đồng người ta sống theo cách này, có nhiều ham muốn được thỏa mãn hơn trong cộng đồng ít tình yêu thương và hiểu biết. Tôi không phải muốn nói một cuộc đời như vậy ‘đức hạnh’ hay cuộc đời trái lại ‘tội lỗi’ , bởi vì tôi thấy đấy là những quan niệm không thể nào biện minh bằng con đường khoa học.
(còn nữa)
[I] Dante Alighieri ( khoảng 1265-1321): đại thi hào người Ý thời Trung Cổ, tác giả của Hài Kịch Thần Thánh (Commedia). (N.D). [II] Ahmes (khoảng 1680- khoảng 1620 TCN): nhà chép sách người Ai Cập thời cổ. (N.D). [1] Xem quyển Triết Học Leibniz của tôi, chương XV.
|
Bài mới
- Tôi Tin Vào Điều Gì [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [1]
- Tôi Tin Vào Điều Gì [1]
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 5]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §75-§78]
- Bước ngoặt ngữ nghĩa học của Kant
- Tương lai của Lý luận văn học
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 4]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §69-§74]
- Về ngữ nghĩa học siêu nghiệm vượt khỏi Phê phán lý tính thuần túy
- Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết [phần 2]
- Hiện tượng
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.I, §65-§68]
- Liên tưởng (sự)









