Thông tin người dùng
Đăng nhập
Lượt truy cập






![]() | Hôm nay | 88 |
![]() | Hôm qua | 96 |
![]() | Tuần này | 287 |
![]() | Tháng này | 832 |
![]() | Tất cả | 52907 |
Thứ hạng của website
Thành viên Online
Hiện có 10 khách Trực tuyến| Tôi Tin Vào Điều Gì [2] |
|
|
|
|
3
Những Quy Tắc Luân Lý
Nhu cầu thực tiễn cần có luân lý nảy sinh từ cuộc xung đột giữa những ham muốn, dù của những người khác nhau hay cùng một người ở những thời điểm khác nhau hay thậm chí cùng một thời điểm. Có người vừa ham thích ăn nhậu, vừa mong được khỏe khoắn để làm việc vào sáng hôm sau. Chúng ta nghĩ anh ta vô luân nếu anh ta chẳng chịu theo cách thức thỏa mãn càng nhiều ham muốn. Chúng ta chê trách những kẻ ngông cuồng hay khinh suất, kể cả nếu họ chẳng gây hại gì cho ai ngoài cho bản thân mình. Bentham giả sử rằng toàn bộ nền luân lý có thể thiết lập từ “tính tự lợi sáng suốt”, [III] và một người luôn hành động nhằm kỳ cùng đạt tối đa thỏa mãn bao giờ cũng hành động phải. Tôi không thể chấp nhận nhãn quan này.Từng có những bạo chúa lấy việc chứng kiến cực hình tra tấn làm niềm thống khoái cao độ; tôi không thể ca ngợi nổi những con người như thế khi bọn họ cẩn trọng buông tha mạng sống nạn nhân ngõ hầu hành hạ tiếp vào hôm khác. Tuy nhiên, nếu như bình thường ở tình huống khác thì tính cẩn trọng là một phần của cuộc đời thiện hảo. Đến cả Robinson Crusoe còn có phen rèn luyện tính siêng năng, tính tự chủ và tính lo xa, những phẩm chất có thể được coi là phẩm chất luân lý, vì chúng gia tăng sự thỏa mãn toàn bộ của anh chàng mà đổi lại không làm hại chi ai. Luận điểm luân lý sau cùng này đóng vai trò rất hệ trọng trong công việc giáo huấn trẻ thơ, vì các em đâu mấy nghĩ đến tương lai. Nếu đời sau thực hành luận điểm này đều đặn hơn, thì cõi đời này nhanh chóng trở thành một thiên đàng, vì rằng đã đủ để ngăn chặn chiến tranh, vốn là hành động vì đam mê chứ chẳng phải vì lý trí. Tuy vậy, dù tính cẩn trọng là quan trọng nhưng nó chưa phải là bộ phận lý thú nhất của luân lý. Nó cũng chưa phải bộ phận đặt ra những nan đề trí tuệ, bởi lẽ nó không đòi hỏi sự viện dẫn đến bất cứ cái gì nằm bên ngoài tính tự lợi. Bộ phận luân lý nằm bên ngoài tính cẩn trọng, về bản chất, là tương đồng với luật lệ, hay quy tắc của một hội đoàn. Nó là một phương pháp giúp con người sống cùng nhau trong một cộng đồng cho dù vẫn có khả năng họ có thể mang những ham muốn xung đột với nhau. Nhưng ở đây có thể có hai phương pháp rất khác biệt. Có phương pháp theo luật hình sự hướng đến một sự hòa thuận bề ngoài đơn thuần bằng cách gây ra những hậu quả bất lợi cho những hành động nào làm trở ngại ham muốn của những người khác theo cách nào đó. Đây cũng là phương pháp phê bình về mặt xã hội: bị xã hội mình nghĩ xấu xa là một hình thức trừng phạt, né tránh điều mà đa số người ta lãng tránh bị biết khi vi phạm lề luật trong giới của mình. Nhưng có một phương pháp khác, căn cơ hơn, và gây thỏa mãn hơn nhiều lúc thành công. Đấy là thay đổi tính cách và ham muốn con người theo chiều hướng hạn chế tối đa những trường hợp xung đột bằng cách biến sự thành công thỏa mãn ham muốn của người này càng nhất quán càng hay với của người kia. Đó là tại sao tình yêu tốt hơn thù hận, bởi vì tình yêu đem lại hòa thuận thay vì xung đột cho ham muốn của người đang được nhắc đến. Hai người yêu nhau cùng thành công hay cùng thất bại, nhưng khi hai người thù hận nhau, thành công của kẻ này là thất bại của kẻ kia. Nếu chúng ta đúng khi nói cuộc đời thiện hảo do tình yêu truyền cảm hứng và do tri thức hướng đạo, thì rõ ràng bộ chuẩn mực luân lý của bất kỳ cộng đồng nào chưa hẳn tối thượng và tự túc, mà phải được khảo sát ngõ hầu phát giác liệu phải chăng nó do minh triết và lòng thiện nguyện ban bố. Bộ chuẩn mực luân lý không phải bao giờ cũng đúng hết cả. Người Aztecs coi ăn thịt người là bổn phận đớn đau vì lo sợ rằng ánh sáng mặt trời sẽ bị lu mờ. Họ phạm lỗi lầm trong khoa học của mình; và có lẽ họ sẽ nhận thức được lỗi lầm của mình nếu như họ đã yêu thương nạn nhân bị tế sinh. Một số bộ lạc giam cầm thiếu nữ từ 10 đến 17 tuổi trong bóng tối, vì lo sợ rằng ánh sáng mặt trời sẽ khiến các nàng hoài thai. Nhưng phải chăng chắc chắn các bộ chuẩn mực luân lý hiện đại của chúng ta không chất chứa cái gì tương tự như tập tục của những người nguyên thủy này? Phải chăng chắc chắn chúng ta chỉ cấm đoán những điều thật sự gây hại, hay chính xác hơn là kinh tởm đến độ chẳng một ai đứng đắn lại chịu đứng ra binh vực? Tôi chưa lấy gì làm chắc lắm. Nền luân lý thời nay là một hỗn hợp đáng tò mò giữa chủ nghĩa duy lợi và lòng mê tín, nhưng phần mê tín chiếm phần nhiều hơn như lẽ tự nhiên phải vậy, vì rằng lòng mê tín chính là căn nguyên của quy tắc luân lý. Đứng từ góc độ căn nguyên, người ta nghĩ một số hành động nào đó làm phật lòng các vị thần và sở dĩ bị luật cấm đoán là vì thần thánh đã phẫn nộ thì hay giáng xuống đầu cả cộng đồng, chứ không chỉ những cá nhân phạm tội không thôi. Bởi vậy mà nảy sinh quan niệm tội lỗi, như điều gì đó làm phật lòng Thiên Chúa. Chưa thể nào gán được lý do cớ sao một số hành động nào đó lại gây phật lòng như vậy; chẳng hạn, rất khó nói cớ tại làm sao thần thánh phật lòng với việc nấu thịt dê con trong sữa mẹ. Nhưng mà theo Mặc Khải thì phải như vậy. Có khi mệnh lệnh Thần Minh được diễn giải theo kiểu gây tò mò biết bao. Thí dụ chúng ta được răn dạy rằng chớ nên làm việc vào ngày Thứ Bảy, và người Tin Lành theo đó mà hiểu rằng chúng ta chớ nên chơi đùa vào ngày Chúa Nhật. Nhưng thẩm quyển cao cả đến chừng ấy được cho là do điều ngăn cấm mới đối với điều ngăn cấm cũ. Dĩ nhiên, một người có cách nhìn khoa học về cuộc đời không thể để mình bị Thánh Kinh và tông huấn của Nhà Thờ hăm dọa. Y sẽ không bằng lòng nói “ một hành động như thế và như thế là tội lỗi, và thế là xong chuyện”. Y sẽ thắc mắc liệu hành động ấy gây hại chi không, hay trái lại chính niềm tin bảo rằng hành động ấy tội lỗi mới là gây hại. Và y sẽ nhìn thấy rằng, đặc biệt ở những điều liên quan đến tình dục, nền luân lý thời nay của chúng ta chứa chấp cả đống thứ có nguồn gốc mê tín thuần túy. Y cũng sẽ thấy rằng lòng mê tín này, giống như người Aztecs, khiến xui đưa đến hành động hung ác nào đâu cần thiết, và sẽ bị đào thải đi nếu như người ta còn biết rung cảm vì tình thương tử tế dành cho đồng loại. Nhưng những người bảo vệ nền luân lý truyền thống hiếm khi mang trái tim nhân hậu, như đã thấy từ thói ham mê binh lửa thể hiện ở các bậc chức sắc Nhà Thờ. Ai đó dễ hay nghĩ rằng họ quý chuộng nền luân lý giúp giải tỏa những dục vọng đã gieo rắc bao đau thương; phạm nhân là kẻ bị trêu chọc, cho nên đáng bao dung! Chúng ta hãy theo sát một người bình thường từ lúc còn trong thai mẹ đến khi về nằm yên dưới mộ, và để ý những chỗ mà những lời răn mê tín gieo rắc khổ đau. Sở dĩ tôi bắt đầu với lúc còn trong thai mẹ là vì ở đây sự ảnh hưởng của lòng mê tín đặc biệt đáng chú ý. Nếu cha mẹ chưa kết hôn thì đứa con là một vết nhơ, mà rõ ràng nào đáng chi đâu. Nếu một trong hai bậc cha mẹ mắc bịnh lây qua đường tình dục, nhiều khả năng đứa con cũng bị nhiễm luôn. Nếu đã có đông con quá nuôi không xuể, thì họ ắt lâm cảnh đói nghèo, thiếu ăn thiếu uống, quá đông quá đúc, biết đâu được mắc luôn tội loạn luân. Song le, tuyệt đại đa số các nhà luân lý đồng ý với nhau rằng bậc làm cha làm mẹ tốt hơn không nên biết cách tránh thai để phòng cái cảnh phận long đong này. [2] Để làm vừa lòng những nhà luân lý, hàng triệu con người chớ bao giờ nên hiện hữu trên cõi đời này đã cam chịu phận đời bạc đãi, chỉ vì thành kiến quan hệ tình dục là tội lỗi trừ phi khao khát sinh con đẻ cái, nhưng thoát tội khi có khao khát ấy, mặc dù đứa con hẳn nhiên phải gánh cái kiếp nhân sinh lầm than. Đột nhiên bị giết hại và bị ăn thịt, số phận của nạn nhân của người Aztecs, so ra khổ não còn thua một đứa trẻ chào đời trong môi trường băng hoại và nhơ nhuốc vì nhiễm bịnh lây qua đường tình dục. Thế nhưng vẫn còn kém xa biết bao cái thống khổ do những bậc giám mục và nhà chính trị cố tình gieo rắc nhân danh nền luân lý. Nếu họ hãy còn chút lòng yêu mến và thương xót trẻ thơ, thì họ đã chẳng thể nào chịu theo một nền lề luật luân lý gây ra tội lỗi ác độc này. Thuở mới lọt lòng, và giai đoạn ấu thơ, một đứa trẻ bình thường rơi vào cảnh khổ vì lý do đói nghèo còn hơn cả vì lòng mê tín. Khi những quý bà giàu sang sinh con, họ có những bác sỹ giỏi nhất, y tá giỏi nhất, chế độ ăn uống hàng ngày tốt nhất, nghĩ ngơi tốt nhất và thể dục tốt nhất. Mấy bà mẹ lao động đâu được hưởng những chế độ ưu đãi đó, và vì vậy mà con họ cứ hay bị chết non. Giới công quyền chỉ chăm lo tí tẹo cho mấy bà mẹ, nhưng chỉ là miễn cưỡng. Vào lúc nguồn cung cấp sữa cho các bà mẹ còn đang nằm tịnh dưỡng bị cắt giảm để tiết kiệm chi phí, giới công quyền tiêu tiền như nước để lát đường lát phố ở những quận thành dân cư giàu có, những chốn nơi vốn chẳng mấy người qua lại. Họ phải biết rằng khi quyết định như vậy, họ đã tuyên án tử dành cho một số trẻ em con giới lao động vì mắc phải cái tội nghèo. Có điều đảng cầm quyền được tuyệt đại đa số giới giáo sĩ ủng hộ, những người, do Đức Giáo Hoàng cầm đầu, đã nguyện quyết lòng gây mê tín khắp chốn trần gian này để hộ trì cái lẽ bất công xã hội. Ở cấp bậc giáo dục nào cũng vậy, ảnh hưởng của lòng mê tín gây nên thảm họa. Một số trẻ em có thói quen suy nghĩ mê tín; một trong những mục đích của giáo dục là chữa lành cho các em khỏi cái cố tật kia. Mấy câu hỏi gây phiền phức bị lãng tránh hay bị trừng phạt. Cảm xúc tập thể được dùng để thấm nhuần một số niềm tin nào đó, đặc biệt hơn cả là loại mang tính quốc gia. Sở dĩ nhà tư bản, nhà quân sự, nhà giáo sĩ hợp tác trong giáo dục là vì tất cả bọn họ đều đạt được quyền lực nhờ tuyên truyền chủ nghĩa cảm xúc và ngăn cấm phán đoán mang tính phê bình. Nhờ thêm bản tính con người trợ giúp, giáo dục đã thành công trong công tác gia tăng và nâng cao những thiên hướng này ở người bình thường. Sự mê tín còn tàn hại nền giáo dục theo một cách khác thông qua sự ảnh hưởng đến chọn lựa của người giáo viên. Vì lý do kinh tế, một giáo viên nữ chớ nên kết hôn; vì lý do luân lý, cô không được có quan hệ tình cảm ngoài giá thú. Vậy mà ai đâu thể tiêu hóa nổi tâm lý học bịnh hoạn cũng đều biết rằng về nguyên tắc mà nói thì kéo dài tình trạng trinh trắng cực kỳ gây tổn hại đến phụ nữ, tổn hại đến mức trong một xã hội lành mạnh chẳng ai lại chịu khuyến khích thanh tân đối với giới giáo viên nữ. Các ranh giới vạch ra khiến mỗi lúc một ít quý cô năng động và mạnh dạn chịu chọn lựa theo nghề giáo. Điều này tất cả là tại do ảnh hưởng còn rơi rớt lại của chủ nghĩa khổ hạnh mang tính chất mê tín. Tại những trường học của giai cấp trung lưu trở lên, vấn đề còn tác tệ hơn. Có những lễ cầu nguyện, và công tác chăm lo về luân lý nằm trong tay giới mục sư. Giới mục sư, gần như nhất thiết, đâu thể nào đóng vai trò người thầy về luân lý. Họ lên án những hành động không gây hại gì và bỏ qua những hành động tác hại dữ dội. Tất cả đều lên án quan hệ tình dục trước hôn nhân giữa những nhân tình đắm say nhau nhưng còn chưa chắc đã muốn ăn đời ở kiếp cùng nhau hay chưa. Chẳng một ai trong họ lên án hành động hung ác của đức ông chồng khiến vợ mình tử nạn vì mang thai đều đặn quá. Tôi biết một vị mục sư hợp mốt có bà vợ sinh đều đều chín đứa trong chín năm. Các bác sĩ bảo cùng ông rằng bà nhà mà có thêm đứa nữa thì bả sẽ chết. Năm sau bả đẻ thêm đứa nữa rồi đi luôn. Chẳng ai lên án; ông vẫn giữ được chức sắc và cưới bà khác. Chừng nào giới mục sư vẫn tiếp tục bỏ qua những hành động tội lỗi và lên án niềm vui vô tội, thì trong vai trò người bảo vệ đức lý cho giới thanh niên, chừng ấy họ chỉ có thể gây hại không thôi. Một hệ lụy tồi tệ nữa của lòng mê tín đối với giáo dục là thiếu đi hướng dẫn về những sự thật về tình dục. Các sự thật sinh lý học chính phải được giảng dạy đơn giản và tự nhiên trước lứa tuổi dậy thì khi các em hãy còn chưa phát dục. Người ta phải giảng giải những yếu tố của nền luân lý về tình dục không mang chất mê tín cho lứa tuổi dậy thì. Thanh niên nam nữ nên được răn dạy để biết rằng không gì có thể biện minh được cho quan hệ tình dục mà chưa có sự đồng ý của cả hai phía. Lời dạy này trái lại với tông huấn Nhà Thờ, theo đó miễn sao hai bên đã kết hôn rồi và đức ông chồng ham muốn sinh thêm con, thì quan hệ tình dục là phải đạo bất chấp người vợ có phản đối dữ dội thế nào đi nữa. Thanh niên nam nữ nên được dạy bảo về tôn trọng tự do của nhau; các em nên được dạy dỗ để hiểu rằng không gì cho phép một người có quyền hành đối với người khác, và lòng ghen tuông và tính chiếm hữu giết chết tình yêu. Các em nên được răn dạy rằng sinh con đẻ cái là vấn đề hệ trọng, thành thử chỉ nên sinh khi đứa trẻ ra đời có triển vọng phải chăng sẽ được khỏe mạnh, có môi trường tốt, và có cha mẹ chăm lo. Nhưng các em cũng nên được dạy bảo về phương pháp ngừa thai, để đảm bảo chỉ sinh bao giờ các em muốn. Sau cùng, các em nên được dạy về mối nguy cơ của bịnh lây qua đường tình dục, cũng như phương pháp phòng tránh và chữa trị. Giáo dục giới tính theo chiều hướng này hẳn sẽ mang lại cho con người niềm hạnh phúc vô lượng. Nên nhận ra rằng, nếu chưa có ý định sinh con thì quan hệ ân ái chẳng qua là vấn đề riêng tư, Nhà Nước hay hàng xóm chớ nên bận tâm làm chi. Thời nay, một số dạng quan hệ nào đó không dẫn đến thụ thai bị luật hình sự trừng phạt: điều này chẳng qua là mê tín, vì rằng việc này có ảnh hưởng chi đến ai đâu trừ các bên tham gia trực tiếp. Mấy cặp đôi nào đã lỡ có con rồi, thật là sai lầm khi bảo rằng vì lợi ích của họ mà nhất quyết phải khiến cho ly hôn trở thành cực kỳ gian nan. Chứng nghiện rượu, việc đối xử ác nghiệt, bịnh điên cuồng là những cơ sở để chấp thuận nhất quyết phải ly hôn vì số phận con cái cũng như vợ chồng. Đời nay mà còn coi việc ngoại tình ghê gớm trầm trọng thì quả là phi lý. Rõ ràng nhiều kiểu lầm lỗi gây ác hại cho hạnh phúc hôn nhân còn hơn chỉ một lần lầm đường lạc bước. Cái kiểu cánh đàn ông nhất quyết đẻ sòn sòn mỗi năm một đứa, truyền thống đâu coi đó là hành vi sai trái hay tội lỗi gì, lại là thứ ác hại nhất hạng. Các quy tắc luân lý chớ nên khiến cho hạnh phúc mang tính bản năng trở nên không phương kế nào đạt được. Nhưng đấy là kết quả của chế độ một vợ một chồng nghiêm ngặt trong một cộng đồng mà số lượng hai giới không cân nhau biết bao. Đương nhiên, trong hoàn cảnh như thế này, các quy tắc luân lý phải bị vi phạm thôi. Nhưng khi các quy tắc là sao cho chúng chỉ có thể tuân thủ nhờ đành đoạn triệt bớt phần lớn niềm hạnh phúc của cộng đồng, và khi tốt hơn chúng thà bị vi phạm còn hơn bị lộ diện rõ ra, chắc chắn đó là lúc phải thay đổi các quy tắc ấy. Nếu điều này chưa xảy ra, những ai hành động theo cách tránh đi ngược lại với lợi ích cộng đồng thực ra chẳng đáng nhưng người đó phải chọn lựa hoặc sống đạo đức giả hoặc bị lăng nhục. Nhà Thờ đâu ngại thói đạo đức giả, nền đạo đức đã cống nạp theo kiểu bợ đỡ cho uy quyền của Nhà Thờ, bất luận ở nơi chốn khác có bị coi là một tội lỗi mà chúng ta chớ bao giờ phạm phải đi nữa. Ác nghiệt còn hơn thói mê tín kiểu thần học là thói mê tín về chủ nghĩa quốc gia, về bổn phận của một người chỉ duy với Nhà Nước mình. Nhưng mà ở đây tôi không muốn đào sâu vấn đề này vượt quá cái độ sâu đơn thuần chỉ ra rằng bổn phận của một người chỉ là bổn phận với đồng bào mình không thôi là đi ngược lại nguyên tắc bác ái mà chúng ta đã công nhận làm nên cuộc đời thiện hảo. Lẽ đương nhiên, điều đó cũng trái với tính tự lợi sáng suốt, vì rằng chủ nghĩa quốc gia đâu phải chỉ dành riêng cho các quốc gia chiến thắng. Một khía cạnh khác mà xã hội chúng ta còn phải chịu hành hạ do quan niệm thần học về ‘tội lỗi’ là cách đối xử với phạm nhân. Cái nhìn xem phạm nhân là ‘ác độc’ và ‘xứng đáng’ hứng chịu hình phạt hẳn không phải nhãn quan mà một nền luân lý duy lý có thể ủng hộ. Hẳn nhiên có một số người nào đó làm một số việc mà xã hội muốn ngăn chặn, và xã hội đã làm đúng khi ngăn chặn càng nhiều càng hay. Chúng ta có thể lấy hành vi sát nhân làm trường hợp rõ ràng hơn cả. Rõ ràng nếu một cộng đồng sống cùng nhau và chúng ta được tận hưởng niềm vui và ưu đãi, chúng ta đâu thể chấp nhận việc người ta giết hại lẫn nhau hễ khi nào họ bị bản năng thúc giục phải làm thế. Nhưng vấn đề này nên được bàn thảo một cách thuần túy trong tinh thần khoa học. Chúng ta chỉ hỏi giản dị: Phương pháp ngăn chặn hành vi sát nhân là gì? Trong hai phương pháp ngăn chặn hành vi sát nhân hiệu quả như nhau, hễ phương pháp nào ít gây tổn hại đến kẻ thủ ác thì nên được chọn. Tổn hại gây ra cho kẻ sát nhân hoàn toàn là đáng tiếc, giống như cơn đau của một cuộc phẫu thuật. Cơn đau cũng cần thiết chừng ấy, nhưng chớ phải điều gì đó đáng hoan hỷ. Cảm xúc hận thù được gọi là ‘lòng căm phẫn hợp luân lý’ chẳng qua là một dạng hành động ác độc. Nỗi khốn khổ gây ra cho kẻ thủ ác đâu bao giờ có thể biện minh được bằng ý niệm trừng phạt để trả thù. Ví bằng giáo dục kết hợp với lòng tốt mà gây được hiệu quả giống hệt thì tốt hơn; càng tốt hơn biết bao nếu càng được hiệu quả cao hơn. Đương nhiên, ngăn chặn tội ác và trừng phạt tội ác là hai nan đề khác nhau; mục đích của gây đớn đau cho kẻ phạm tội được cho là nhằm thanh tẩy. Nếu nhà tù nhân đạo đến mức tù nhân được giáo dục mà không mất gì, biết đâu người ta đua nhau phạm tội để được vào tù ra khám. Đời sống tù tội hẳn là chả vui thích bằng đời sống tự do; nhưng cách tốt nhất để đạt được kết quả đó là làm cho đời sống tự do vui sướng hơn hiện thời. Tuy nhiên, tôi không muốn lao vào chủ đề Cải Cách Hình Luật. Tôi chẳng qua muốn gợi ý rằng chúng ta nên đối xử với phạm nhân như một con người mắc bịnh dịch. Từng người một là một mối nguy cơ cho cộng đồng, từng người một phải bị tước đi tự do đến khi hắn thôi còn là nguy cơ nữa. Nhưng mà người bị mắc bịnh dịch là một đối tượng cần cảm thông và thương xót, trong khi ngược lại kẻ phạm tội là một đối tượng đáng nguyền rủa. Điều này hơi phi lý. Và sở dĩ nhà tù của chúng ta chưa thành công lắm trong công tác chữa lành những thiên hướng phạm tội so với bịnh viện của chúng ta trong công tác chữa lành bịnh tật chính là vì thái độ khác biệt này.
4
Sự Cứu Độ: Cá Nhân Và Xã Hội
Một trong những khiếm khuyết của tôn giáo truyền thống là chủ nghĩa cá nhân của nó, và nền luân lý gắn liền với nó cũng chịu khiếm khuyết này. Theo lối nhìn truyền thống thì cứ như thể đời sống tôn giáo là cuộc song thoại giữa linh hồn và Thiên Chúa. Tuân phục theo ý chí Thiên Chúa là đức hạnh; và điều này là khả dĩ cho cá nhân bất luận tình trạng cộng đồng như thế nào đi nữa. Phái Tin Lành đã phát triển ý niệm “tìm kiếm sự cứu độ”, nhưng ý niệm ấy bao giờ cũng đã sẵn có mặt trong tông huấn của đạo Thiên Chúa. Chủ nghĩa cá nhân của linh hồn tách biệt này có giá trị riêng ở những giai đoạn lịch sử nào đó, có điều trong thế giới hiện đại, chúng ta cần một quan niệm phúc lợi mang tính xã hội hơn là mang tính cá nhân. Trong phần này, tôi muốn xét xem điều này gây ảnh hưởng như thế nào lên quan niệm của chúng ta về cuộc đời thiện hảo. Đạo Thiên Chúa nổi lên trong dân chúng ở Đế Quốc La Mã, vốn hoàn toàn chẳng có quyền lực chính trị gì hết, những kẻ mang thân phận vong quốc và tập hợp lại thành một đoàn thể rộng khắp không mang chất cá nhân. Trong ba thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Thiên Chúa, các cá nhân theo đạo Thiên Chúa không thay đổi những thể chế chính trị hay xã hội trong đó họ đang sống, mặc dù tận sâu thẳm họ biết chớ các thể chế ấy tàn tệ. Trong hoàn cảnh như thế kia, tự nhiên họ theo đuổi niềm tin cho rằng cá nhân có thể hoàn hảo trong một thế gian không hoàn hảo, và cuộc đời thiện hảo chẳng mắc mớ chi đến cõi đời này. Điều tôi muốn nói có thể trở nên sáng tỏ bằng cách so sánh với Cộng Hòa của Plato. Khi Plato muốn mô tả cuộc đời thiện hảo, ông mô tả toàn bộ một cộng đồng, chứ nào phải một cá nhân; ông làm thế để định nghĩa lẽ công bằng vốn là một quan niệm mang tính xã hội từ tận xương tủy. Ông đã quen với tư cách công dân của một nền cộng hòa, và trách nhiệm chính trị là cái chi đó ông giả định sẵn. Khi nền tự do của Hy Lạp đã mất cũng là lúc Chủ Nghĩa Khắc Kỷ nổi lên, chủ nghĩa này giống như đạo Thiên Chúa, chứ không giống Plato, ở chỗ có quan niệm về cuộc đời thiện hảo dành cho cá nhân. Chúng ta, những kẻ thuộc về những nền dân trị vĩ đại, thấy ở thành Athens tự do có nền đức lý phù hợp hơn ở thành Rome Đế Quốc bạo ngược. Ở Ấn Độ, cõi có hoàn cảnh chính trị rất tương đồng với hoàn cảnh ở vùng Judea thời Chúa Cứu Thế, chúng ta thấy Gandhi cũng thuyết giảng một nền luân lý tương đồng biết bao với của Chúa Cứu Thế và vì vậy mà bị những người nối nghiệp của Pontius Pilate,[IV] trớ trêu thay lại theo đạo Thiên Chúa, trừng phạt. Nhưng những người theo chủ nghĩa quốc gia Ấn Độ cực đoan hơn chưa vừa lòng với sự cứu độ dành cho cá nhân: họ muốn sự cứu độ dành cho quốc gia. Ở điểm này, họ theo đuôi viễn cảnh của các nền dân trị tự do của Phương Tây. Tôi muốn gợi ra một vài khía cạnh để từ đó thấy viễn cảnh này, do ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa, chưa thật táo bạo và tự giác lắm, nhưng nó vẫn bị niềm tin vào sự cứu độ cá nhân làm chướng ngại. Như chúng ta quan niệm, cuộc đời thiện hảo đòi hỏi nhiều điều kiện xã hội, và không thể thành hiện thực giả như thiếu hụt. Chúng ta đã nói cuộc đời thiện hảo là cuộc đời do tình yêu truyền cảm hứng và tri thức hướng đạo. Tri thức cần thiết chỉ có thể có mặt ở nơi đâu chính phủ và giới triệu phú tận tụy dâng mình cho sự nghiệp khám phá và truyền bá tri thức. Chẳng hạn sự lan rộng của căn bịnh ung thư đang gióng hồi chuông báo động, chúng ta làm gì với nó đây? Ở thời điểm này, chưa một ai có thể trả lời câu hỏi ấy vì còn thiếu tri thức; và tri thức đâu thể nào có được nếu không có nghiên cứu được tài trợ. Lại nữa, tri thức khoa học, lịch sử, văn chương và nghệ thuật hẳn chỉ sở đắc nhờ tất cả những ai biết khát khao; điều ấy đòi hỏi những sắp đặt công phu ở bộ phận công quyền, và đâu thể đạt được nhờ phương tiện cải giáo. Thế thì phải có trao đổi mua bán với nước ngoài, bằng không thì phân nữa dân số Anh Quốc sẽ bị chết đói; và nếu chúng ta đang đói khát thì chỉ dăm người trong chúng ta có thể sống cuộc đời thiện hảo. Chắc không cần phải cho thêm ví dụ nữa. Trong tất cả những điểm phân biệt cuộc đời thiện hảo và tội nghiệt, điểm quan trọng là thế giới này là một, và kẻ nào giả vờ sống độc lập là một kẻ ăn bám vô tình hay cố ý. Ý niệm về sự cứu độ cá nhân, những tín đồ Thiên Chúa thời kỳ đầu lấy đó làm niềm an ủi trong thân phận bị nô dịch về chính trị, trở thành không thể thực hiện ngay khi chúng ta tránh được quan niệm quá hẹp hòi về cuộc đời thiện hảo. Trong quan niệm chính thống theo đạo Thiên Chúa, cuộc đời thiện hảo là cuộc đời đức hạnh, và đức hạnh cốt ở tuân phục ý chí Thiên Chúa, và ý chí Thiên Chúa được mạc khải đến mỗi một cá nhân thông qua tiếng nói lương tâm. Toàn bộ quan niệm này là của những con người bị một chế độ bạo ngược xa lạ nô dịch. Cuộc đời thiện hảo còn dính dấp đến nhiều thứ nữa bên cạnh đức hạnh- chẳng hạn trí tuệ. Và lương tâm là một kẻ dẫn dường lầm lạc nhất, bởi vì nó bao gồm những hồi tưởng mơ hồ về những châm ngôn đã nghe từ thời niên thiếu, cho nên nó chẳng bao giờ khôn ngoan hơn bảo mẫu hay bà mẹ của người nghe. Để sống một cuộc đời thiện hảo theo ý trọn vẹn nhất thì một người phải được giáo dục tốt, có bạn bè, tình yêu, con cái (nếu y mong ước), đủ thu nhập để đáp ứng nhu cầu và khỏi lo sợ thái quá, sức khỏe tốt, và công việc không quá buồn chán. Tất cả mấy điều này, ở nhiều mức độ khác nhau, phụ thuộc vào cộng đồng, và được sự kiện chính trị thúc đẩy hay bị gây trở ngại. Cuộc đời thiện hảo phải là cuộc đời trong xã hội tốt đẹp, và sống theo lối khác thì không thể nào vẹn toàn. Đây là thiếu sót căn bản của lý tưởng quý tộc. Những điều cao đẹp nào đó, chẳng hạn như nghệ thuật và khoa học và tình bạn, có thể phát triển tươi tốt trong xã hội quý tộc. Chúng từng hiện hữu ở Hy Lạp trên nền tảng nô dịch; chúng hiện hữu giữa chúng ta trên nền tảng bóc lột. Nhưng tình yêu, ở dạng thức cảm thông, hay lòng thiện nguyện, đâu thể hiện hữu một cách tự do trong một xã hội quý tộc. Nhà quý tộc phải tự thuyết phục mình rằng kẻ nô lệ hay tên vô sản hay thằng da màu là đứa thấp kém, và nỗi lao nhọc của hắn chẳng quan trọng gì. Vào cái thời này, một quý ông dòng giống Ăng-Lê lịch lãm đánh đập đứa dân châu Phi man rợ đến độ gây ra tử vong sau hàng giờ thống khổ đâu lời nào tả xiết. Kể cả nếu những quý ông này có được học hành tử tế, mang tâm hồn nghệ sỹ, có duyên ăn nói đáng ngưỡng mộ tới đâu đi nữa, thì tôi không thể nào công nhận nổi họ sống cuộc đời thiện hảo. Bản tính con người đặt ra mức độ cảm thông nào đó, nhưng chẳng phải ở mức độ thấp bé chừng ấy. Trong một xã hội đầu óc thiên hướng dân chủ, chỉ có hạng điên cuồng mới cư xử theo lối ấy. Giới hạn cảm thông quá thấp bé nằm trong lý tưởng quý tộc là căn cứ để lên án nó. Sở dĩ sự cứu độ là một lý tưởng quý tộc là vì nó mang tính chất chủ nghĩa cá nhân. Cũng vì duyên cớ này, ý niệm cứu độ con người, dù được diễn giải và khai triển thế nào đi nữa, không thể dùng để cắt nghĩa cuộc đời thiện hảo. Một đặc điểm khác của sự cứu độ, đó là nó là kết quả của bước thay đổi mang tính thảm họa, giống như sự cải giáo của Thánh Paul.[V] Những bài thơ của Shelley [VI] trưng ra một minh họa về quan niệm này áp dụng cho xã hội; thời khắc xảy đến khi mỗi một người cải giáo, các ‘bậc thủ lĩnh’ bay bổng, và ‘thời kỳ vĩ đại của thế gian lại bắt đầu’. Có thể nói một nhà thơ là một con người vốn đâu có chi quan trọng, những ý tưởng của nhà thơ chẳng gây ra hệ lụy gì. Nhưng tôi tin rằng đa số các vị lãnh đạo cách mạng đã từng ôm ấp những ý niệm tuyệt kỳ giống như của Shelley. Họ ngỡ rằng nỗi thống khổ và tội ác nghiệt và sự suy đồi đều do tên bạo chúa hay giới tu sĩ hay nhà tư bản hay người Đức gây ra, và nếu những căn nguyên tội ác này bị bứng tróc gốc, thì sẽ tạo ra một thay đổi toàn bộ về căn bản, và tất cả chúng ta từ đây sẽ sống hạnh phúc đời đời. Vì tin tưởng như vậy, họ muốn tiến hành một cuộc “chiến tranh để kết thúc chiến tranh”. Tương đối may mắn là những kẻ bị đánh bại hay tử trận; bất hạnh mới là những kẻ giành chiến thắng rồi hóa điên hay tuyệt vọng vì tất cả hoài vọng sáng chói chợt vụt tắt. Căn nguyên tối hậu của những hoài vọng này là học thuyết của đạo Thiên Chúa về sự cải giáo mang tính thảm họa như con đường đưa đến cứu độ. Tôi nào phải muốn đề nghị rằng không nhất thiết phải làm cách mạng, mà tôi muốn đề nghị rằng chúng đâu phải là những con đường tắt bước sang thời đại hoàng kim. Chẳng có con đường tắt bước đến cuộc đời thiện hảo, dù cho cá nhân hay xã hội. Để xây dựng dần dần cuộc đời thiện hảo thì chúng ta phải nâng cao lần hồi trí tuệ, đức tự chủ, và lòng cảm thông. Đây là vấn đề lượng tính, một vấn đề của cải thiện dần dần, của đào tạo từ sớm, của thể nghiệm giáo dục. Chỉ có vội vàng mới tin có thể đột nhiên cải thiện. Sự cải thiện dần dà, nếu như có thể thực hiện, và các phương pháp để đạt được, là vấn đề dành cho khoa học tương lai. Nhưng ngay lúc này có thể nói một vài điều. Mấy điều có thể nói được tôi sẽ cố gắng giãi bày trong phần cuối cùng.
5
Khoa Học Và Hạnh Phúc
Mục đích của nhà luân lý là cải thiện hành vi con người. Đây là một tham vọng đáng ca ngợi, bởi vì hành vi con người đa phần đáng trách. Nhưng tôi không thể ngợi ca nhà luân lý vì sự cải thiện cụ thể nào mà ông khao khát hay vì các phương pháp mà ông vận dụng để đạt được mục đích. Phương pháp bề nổi của ông là hô hào luân lý; phương pháp thật của ông (nếu ông theo chính thống) là một hệ thống thưởng phạt mang tính kinh tế. Phương pháp đầu chẳng gây được ảnh hưởng lâu dài hay quan trọng gì; ảnh hưởng của những nhà làm thức tỉnh đức tin,[VII] từ Savonarola[VIII] trở về sau, bao giờ cũng chỉ mang tính tạm bợ. Phương pháp sau- ban thưởng và trừng phạt- gây được hiệu quả then chốt. Chẳng hạn, sở dĩ chúng khiến một người đàn ông ham thích gái giang hồ ngẫu hợp hơn vợ bé lâu dài là vì ông nhất thiết phải theo phương pháp dễ dàng che dấu hơn cả. Vì vậy, hệ thống đó duy trì được một số nghề nghiệp nguy hại biết bao, và bảo hộ được sự lan truyền của bịnh lây qua đường tình dục. Những điều này vốn đâu phải các đối tượng mà nhà luân lý mong cầu, và vì ông phản khoa học quá nên chẳng để ý thấy chúng kỳ thực là những điều ông đã đạt được trong hiện thực. Liệu có cái gì đó tốt hơn thay thế cho hỗn hợp phản khoa học vừa thuyết giảng vừa hối lộ này chăng? Tôi nghĩ là có. Sở dĩ hành động con người gây hại là vì vô tri hoặc vì dục vọng xấu xa. Dục vọng ‘xấu xa’, khi chúng ta đang nhìn từ quan điểm xã hội, có thể được định nghĩa như dục vọng có khuynh hướng chướng ngại dục vọng của người khác, hay chính xác hơn, dục vọng thúc đẩy thì ít mà chướng ngại dục vọng khác thì nhiều. Không cần thiết phải bàn sâu về tính cách gây hại phát sinh từ sự vô tri; ở đây, tất cả những gì cần thiết là có thêm nhiều tri thức hơn, cho nên con đường cải thiện nằm ở chỗ có thêm nhiều nghiên cứu và giáo dục hơn. Nhưng tính gây hại phát sinh từ dục vọng xấu xa là một vấn đề nan giải hơn. Ở đàn ông và đàn bà bình thường, có một mức độ chủ tâm ác độc nào đó, cả lòng ác ý riêng tư trực tiếp dành cho kẻ thù cụ thể nào đó lẫn niềm khoái cảm lạnh lùng chung chung trước bất hạnh của kẻ khác. Thói thường hay che đậy điểm này bằng những mỹ từ; khoảng phân nữa nền luân lý truyền thống đội cái lốt ấy. Nhưng nếu muốn thành tựu cái mục đích của nhà luân lý nhằm cải thiện hành vi chúng ta thì buộc phải đối diện thôi. Có hàng ngàn cách lớn nhỏ để trỏ ra: người ta lặp lại và tin tưởng vào vụ bê bối trong niềm hân hoan, đối xử tàn bạo với phạm nhân bất kể có chứng cớ rõ ràng cho thấy đối xử tốt lành hơn là cách hiệu quả hơn để biến cải họ, tất cả các chủng tộc da trắng hành xử với người đa đen theo cách man rợ đến không thể tin nổi, và những quý bà và mục sư già nua chỉ ra nghĩa vụ quân dịch của thanh niên trong cuộc Đại Chiến trong niềm khoái trá. Đến cả trẻ con cũng có thể là đối tượng bị đối xử ác độc cố tình: David Copperfield và Oliver Twist hẳn đều phải đâu là tưởng tượng. Chủ tâm ác độc này là khía cạnh tồi tệ nhất trong bản tính con người và là một điểm cần phải thay đổi trước nhất nếu như muốn trần gian này hạnh phúc hơn. Có lẽ trong tác động gây ra chiến tranh, chỉ một nguyên nhân này thôi chắc cũng đủ mạnh hơn hết thảy nguyên nhân kinh tế và chính trị cộng lại. Đối với vấn đề ngăn chặn ác tâm này, chúng ta sẽ ứng phó ra sao đây? Trước tiên, chúng ta hãy cố gắng thấu hiểu những nguyên nhân của nó. Tôi thiết nghĩ rằng những nguyên nhân này phần nào mang tính xã hội, phần nào mang tính sinh lý học. Thế gian này, thời nay cũng như thời trước, dựa trên cuộc cạnh tranh tồn vong sinh tử; vấn đề gây tranh cãi trong cuộc Đại Chiến vừa qua là trẻ con phe Đức hay phe Đồng Minh nên chết vì thiếu thốn và đói rách. (Bên cạnh ác tâm từ cả hai phe, không có chút lý do mỏng manh nào tại sao cả hai phe chớ nên sống sót). Đa số người ta mang trong tâm tưởng nỗi khiếp sợ bị tàn phá ám ảnh; điều này càng đúng với những người có con cái. Kẻ giàu sợ người Bolshevik tịch thu nguồn đầu tư; kẻ nghèo sợ mất việc làm hay sức lực. Bao người điên rồ đuổi theo ‘sự an ninh’ và tưởng đâu có thể đạt được điều này nhờ luôn giữ thế áp đảo trước những kẻ thù tiềm năng. Chính vào thời khắc sợ hãi mà hành động tội ác trở nên lan rộng nhất và hung bạo nhất. Ở khắp mọi nơi, kẻ phản động cầu viện nỗi sợ hãi: ở Anh thì sợ hãi đảng Bolshevik; ở Pháp thì sợ hãi Đức; ở Đức thì sợ hãi Pháp. Và hiệu quả duy nhất của sự cầu viện của họ là gia tăng mối nguy cơ chống lại điều họ vốn muốn bảo vệ. Vì thế, chiến đấu chống lại nỗi sợ hãi chính là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhà luân lý khoa học. Điều này có thể thực hiện theo hai cách: tăng cường an ninh và bồi dưỡng lòng dũng cảm. Tôi đang nói đến nỗi sợ hãi như một đam mê phi lý, chứ không phải tiên đoán hợp lý về bất hạnh có thể xảy ra. Khi một nhà hát phát hỏa, người duy lý thấy trước thảm họa tỏ tường cũng như kẻ bị kích động vì hoảng sợ, nhưng người ấy theo đuổi một phương pháp nhiều khả năng giảm bớt thảm họa, ngược lại kẻ bị kích động vì hoảng sợ làm tăng thêm thảm họa. Âu Châu từ năm 1914 giống như một khán giả bị kích động vì hoảng sợ trong một nhà hát đang bốc cháy; điều cần thiết là sự điềm tĩnh, cách ra mệnh lệnh chỉ huy làm thế nào để vượt thoát mà không giẫm đạp lên nhau đến chết trong quá trình đó. Sở dĩ Thời Đại Victoria nhờ tất cả trò bịp bợm của nó mà thành thời đại tiến bộ nhanh chóng là vì người ta hy vọng nhiều hơn sợ hãi biết bao. Nếu muốn thêm một lần nữa tiến bộ, thì thêm một lần nữa chúng ta phải hy vọng nhiều hơn. Điều gì giúp tăng cường nền an ninh chung thì nhiều khả năng cũng giảm bớt tội ác. Vận dụng điều này để phòng ngừa chiến tranh, dù là thông qua phương tiện Hội Quốc Liên hay phương tiện khác; để ngăn chặn đói nghèo; để có sức khỏe tốt hơn nhờ cải thiện trong ngành y khoa, vệ sinh, hệ thống vệ sinh công cộng; và cũng dùng cho tất cả phương pháp khác để giảm bớt nỗi kinh sợ ẩn kín trong hố thẳm của tâm trí con người và xuất hiện ra thành ác mộng trong giấc ngủ. Nhưng không gì thành tựu được chỉ bằng một nỗ lực bảo vệ bộ phận nhân loại này bằng cái giá phải trả là bộ phận nhân loại khác- người Pháp bằng cái giá là người Đức, giới tư bản bằng cái giá là giới làm công, dân da trắng bằng cái giá là dân da vàng, v.v. Những phương pháp như thế chỉ làm tăng kinh hoàng trong nhóm thống trị, vì rằng chính nỗi oán giận khiến kẻ bị áp bức nổi loạn. Chỉ lẽ công bằng mới mang lại an ninh; và dùng từ ‘lẽ công bằng’ tôi muốn nói đến sự công nhận quyền yêu sách ngang nhau dành cho tất cả mọi người. Bên cạnh những biến đổi xã hội nhằm đem lại an ninh, tuy nhiên còn có một phương tiện khác trực tiếp hơn để giảm bớt nỗi khiếp sợ. Do lòng dũng cảm trong chiến trận là quan trọng, con người đã sớm khám phá ra phương tiện để tăng cường dũng khí bằng giáo dục và thức ăn hàng ngày- thí dụ ăn thịt người được cho là lợi ích. Nhưng dũng khí nhà binh là đặc quyền của tập cấp thống trị: dân Sparta anh dũng hơn dân nô lệ thành Sparta, sĩ quan Anh hơn binh nhì Ấn Độ, đàn ông hơn đàn bà, v.v. Trong hàng bao thế kỷ, người ta giả định đó là đặc quyền của giới quý tộc. Hễ lòng dũng cảm của tập cấp thống trị càng tăng thì được dùng để đè thêm gánh nặng của giai cấp bị áp bức, thành thử càng tăng cường những nền tảng khiến người bị áp bức khiếp sợ, cho nên bỏ mặc mà chưa trừ khử các căn nguyên tội ác. Lòng dũng cảm phải được dân chủ hóa trước khi nó có thể làm cho con người xứng đáng thân phận làm người. Lòng dũng cảm đã được dân chủ hóa ở mức độ đáng kể nhờ những sự kiện gần đây. Những người phụ nữ đấu tranh đòi quyển bầu cử cho thấy quý nương cũng dũng cảm chẳng kém chi đấng nam nhi gan dạ nhất; chính nhờ minh chứng này mà họ giành được quyền bầu cử. Người lính thường trong cuộc Đại Chiến cũng cần nhiều dũng khí như một viên đại úy hay thiếu úy, dũng khí hơn biết bao nhiêu so với một vị tướng; sở dĩ được vậy là vì anh ta không nô lệ vào chuyện sau khi giải ngũ. Người Bolshevik, tự tuyên bố là những nhà vô địch trong giai cấp vô sản, đâu phải thiếu dũng khí, cho dù nói gì khác về họ cũng được; điểm này được chứng minh bằng thành tích trước cách mạng của họ. Ở Nhật, chốn mà vào đời trước giới Samurai độc quyền tinh thần võ đạo, chế độ quân dịch làm cho toàn bộ nam giới thành can trường. Như vậy trong tất cả mọi điều, các Liệt Cường đã làm được nhiều trong nữa thế kỷ vừa qua là biến lòng dũng cảm thôi còn là độc quyền của giới quý tộc: bằng không thì nền dân chủ đã bị đe dọa nghiêm trọng biết bao. Nhưng lòng dũng cảm trong chiến đấu hẳn nhiên đâu phải hình thức duy nhất, có lẽ cũng đâu phải hình thức quan trọng hơn cả. Có lòng dũng cảm trong đối mặt với cảnh đói nghèo, có lòng dũng cảm trong đối mặt với việc bị chế nhạo, có lòng dũng cảm trong đối mặt với sự chống đối của chính đoàn thể của mình. Ở đấy, những chiến sĩ can trường nhất cũng thường kém cõi đến thảm thương. Và cao hơn hết thảy, có lòng dũng cảm để suy nghĩ điềm tĩnh và duy lý khi đối mặt với nguy hiểm, và làm chủ xung động do hoảng sợ và cuồng nộ. Những điều này chắc chắn giáo dục có thể giúp ích được ít nhiều. Và lời giáo huấn về từng hình thức dũng cảm một được diễn tả là dễ dàng có hơn nhờ có sức khỏe dồi dào, thể trạng ngon lành, dinh dưỡng đầy đủ, và cởi mở cho những bản năng sống cơ bản. Có lẽ nguồn gốc sinh lý của lòng dũng cảm có thể được khám phá nhờ đối chiếu máu mèo và màu thỏ. Giống như vậy, khoa học chẳng vướng phải bất kỳ ranh giới nào trong khám phá cách thức tăng cường lòng dũng cảm, chẳng hạn như trải nghiệm một nguy hiểm, một cuộc đời khổ hạnh, hay ăn uống hàng ngày thích hợp. Những cậu trai thuộc tầng lớp thượng lưu của chúng ta được thụ hưởng tất cả mấy điều này ở mức cao, nhưng cho đến nay chủ yếu chỉ vì các cậu là hạng giàu sang. Cho đến tận bây giờ, lòng dũng cảm được khuyến khích ở tầng lớp dân chúng cơ cực hơn trong cộng đồng là lòng dũng cảm theo mệnh lệnh, chứ không phải loại mang tính tự giác và tố chất lãnh đạo. Khi các phẩm chất mà bây giờ vốn chỉ gán cho giới lãnh đạo trở thành phổ biến, thì chẳng còn nữa người lãnh đạo và kẻ thuộc hạ, và cuối cùng thì nền dân chủ sẽ thành hiện thực. Nhưng không chỉ khiếp sợ là căn nguyên của ác tâm mà lòng ghen tỵ và nỗi thất vọng cũng góp phần. Lòng ghen tỵ của người tàn tật và lưng gù đã thành lối nói thành ngữ như căn nguyên của ác tâm, nhưng những người ít bất hạnh hơn cũng gây ra những kết quả tương tự. Một người đàn ông hay đàn bà bị dồn nén về mặt tình dục dễ chất chứa đầy lòng ghen tỵ; nói chung điều này thường nằm ở hình thức kết tội về luân lý của người may mắn hơn. Đa phần mãnh lực thúc đẩy những phong trào cách mạng là do lòng ghen tỵ người giàu. Lòng ghen tuông đương nhiên là lòng ghen tỵ tình yêu. Người đầu hai thứ tóc ghen tỵ kẻ đầu xanh; và khi ghen tỵ, họ đối xử tàn ác với bọn kia. Theo chỗ tôi biết, chẳng có phương cách nào ứng phó với lòng ghen tỵ ngoài cách biến đời sống của kẻ ghen tỵ thành hạnh phúc và vẹn toàn hơn, và khích lệ đám thanh niên chớ nên cạnh tranh mà hãy có lý tưởng vì sự nghiệp tập thể. Những hình thức tồi tệ hơn cả của lòng ghen tỵ là ở những người không có cuộc sống hôn nhân, con cái, hay sự nghiệp trọn vẹn. Trong đa số trường hợp, những bất hạnh như vậy có thể tránh được nhờ thể chế xã hội tốt hơn. Có điều phải thừa nhận rằng nhiều khả năng vẫn còn lòng ghen tỵ rơi rớt lại. Có nhiều thí dụ trong lịch sử các vị tướng lĩnh vì quá ghen ghét nhau mà thà chịu thất trận còn hơn thấy kẻ khác được rạng danh. Hai nhà chính trị cùng một đảng, hay hai nhà họa sỹ cùng một trường phái, gần như chắc cú là tỵ hiềm lẫn nhau. Trong những trường hợp đó, chẳng làm được gì ngoài thu xếp, càng nhiều càng hay, để cho mỗi kẻ tranh đua không thể làm tổn hại lẫn nhau, và chỉ chiến thắng nhờ tài năng ưu thắng. Thường thường lòng ghen ghét của một nhà họa sỹ với đối thủ sở dĩ chẳng gây hại chi lắm là vì cách thỏa mãn hiệu quả duy nhất là vẽ tranh đẹp hơn địch thủ, bởi lẽ y đâu thể nào có thể hủy hoại họa phẩm của địch thủ. Chỗ nào lòng ghen ghét là không thể tránh khỏi, nó phải được dùng để kích thích nỗ lực của một người, chứ không phải cản trở nỗ lực của địch thủ. Những khả năng của khoa học trong công việc làm con người hạnh phúc hơn không chỉ hạn định trong công tác loại trừ những phương diện gây nên cái thế cục hai bên cùng tổn hại trong bản tính con người, và vì vậy mà chúng ta gọi là ‘tồi tệ’. Có lẽ chẳng có ranh giới nào hạn định khoa học trên con đường gia tăng sự ưu thắng tích cực. Sức khỏe đã được cải thiện đáng kể; bất chấp những người hoài cổ lý tưởng hóa quá khứ không ngớt than van, chúng ta bây giờ sống lâu hơn và ít bịnh tật hơn bao nhiêu so với bất kỳ tầng lớp hay quốc gia nào vào thế kỷ mười tám. Nếu mà biết vận dụng thêm chút nữa kiến thức chúng ta biết, thì tương lai có thể chúng ta còn sống khỏe hơn nhiều so với bây giờ. Và những khám phá tương lai nhiều khả năng tăng tốc nhanh lẹ quá trình này. Đến nay, chỉ có khoa học vật lý tác động đến đời sống chúng ta mạnh hơn cả, nhưng trong tương lai nhiều khả năng sinh lý học và tâm lý học còn gây ảnh hưởng mãnh liệt hơn nhiều. Khi chúng ta đã khám phá ra được tính cách phụ thuộc vào những điều kiện sinh lý như thế nào, chúng ta sẽ có thể, nếu chúng ta chọn lựa, tạo ra nhiều kiểu con người mà chúng ta hằng ngưỡng mộ. Trí tuệ, lòng thiện nguyện, và tài năng nghệ thuật- tất cả những phẩm chất này hẳn là khoa học có thể nâng tầm cao thêm lên được. Hình như chẳng có ranh giới nào dành cho những gì có thể làm để tạo ra cõi trần gian tốt đẹp, chỉ cần con người sử dụng khoa học một cách khôn ngoan. Tôi đã giãi bày nỗi lo sợ của tôi ở chỗ khác về việc con người không thể dùng năng lực họ thu được từ khoa học một cách khôn ngoan.[3] Hiện giờ, tôi đang đoái hoài đến cái thiện mà con người có thể thực hiện nếu họ chọn, chứ không phải câu hỏi liệu họ sẽ chọn hay không hay thà là gây hại. Có một thái độ về áp dụng khoa học cho đời sống con người mà tôi thông cảm, mặc dù tôi không đồng ý trong phân tích chung cục. Đó là thái độ của những người e ngại những gì ‘không tự nhiên’. Dĩ nhiên, Rousseau là vai chính tuyệt kỳ của nhãn quan này ở Âu Châu. Ở Á Châu, Lão Tử đã trình bày còn thuyết phục hơn, và sớm hơn tới 2400 năm. Tôi nghĩ thán phục thiên nhiên có phần đúng có phần sai, điểm quan trọng là tách bạch chúng ra. Trước hết, những gì là ‘thuận tự nhiên’? Nói nôm na, bất kể thứ gì mà người nói đã quen thuộc vào thuở ấu thơ. Lão Tử chối từ đường xá và ngựa xe và thuyền buồm, chắc ở làng quê ông đâu có ai biết ba thứ này. Rousseau từng quen thuộc với ba thứ đó, và không xem là phản tự nhiên. Nhưng hẳn ông sẽ chửi bới đường sắt nếu như ông sống để mà thấy. Áo quần và nấu nướng đã xa xưa quá nên tông đồ phái thuận theo tự nhiên mới không lên án, mặc dù tất cả bọn họ đều chối từ những phương thức mới trong cả hai chuyện này. Sở dĩ những người cởi mở với chủ trương độc thân nghĩ sự hạn chế sinh sản là ác độc là vì cái sau là sự vi phạm tự nhiên có vào đời sau này, còn cái trước đã xa xưa rồi. Trong tất cả mấy điều này, những ai thuyết giảng ‘tự nhiện’ mắc lỗi không nhất quán, và người ta dễ thường xem họ như những nhà thủ cựu thuần khiết. Tuy nhiên có thể nói vài điều để binh vực họ. Lấy thí dụ vitamin, sự khám phá tạo ra bước chuyển biến trong yêu chuộng thực phẩm ‘tự nhiên’. Dầu sao thì dường như có thể sản xuất vitamin từ dầu gan cá thu và đèn điện, mà đèn với điện thì hẳn nhiên không phải bộ phận trong bữa ăn thường ngày ‘tự nhiên’ của con người. Trường hợp này minh họa cho thấy, đã thiếu kiến thức thì sự lệch hướng khỏi lẽ tự nhiên biết đâu gây hại ngoài ý muốn; nhưng khi đã thấu hiểu cái tác hại ấy thì có thể khắc phục bằng tính chất không tự nhiên mới mẽ nào đó. Đối với môi trường vật lý và phương tiện vật lý để thỏa mãn dục vọng của chúng ta, tôi không nghĩ học thuyết ‘tự nhiên’ biện minh cho cái gì đó hơn một lời cảnh cáo thể nghiệm trong khi theo một phương thức mới. Chẳng hạn, quần áo là trái với tự nhiên, và cần thêm một thực hành trái với tự nhiên nữa, đó là giặt rữa, nếu như không muốn áo quần lây bịnh tật. Nhưng hai thực hành này hợp cùng nhau giúp con người khỏe mạnh hơn so với người nguyên thủy vốn chưa từng dùng cả hai. Có thể nói thêm về ‘tự nhiên’ trong địa hạt ‘dục vọng con người’. Để ép buộc đàn ông, đàn bà, hay trẻ nhỏ sống cuộc đời mà những bản năng mãnh liệt nhất hạng bị dồn nén thì vừa tội lỗi vừa nguy hiểm; theo ý này, một cuộc đời thuận theo ‘tự nhiên’ được ca ngợi kèm theo những điều kiện nào đó. Không gì có thể nhân tạo hơn một đường rây xe điện ngầm, nhưng chẳng có gì xâm hại đến bản tính của một đứa trẻ khi dắt em đi thử một lần; ngược lại, hầu như tất cả trẻ con đều thấy kinh nghiệm ấy đầy thích thú. Nếu trong hoàn cảnh bình thường khác, thì tính nhân tạo thỏa mãn dục vọng của một người bình thường là tốt. Nhưng chẳng thể nói gì về cách sống mang tính nhân tạo theo ý do hoàn cảnh kinh tế và quyền thế áp đặt. Chắc chắn vào thời nay những cách sống như thế ít nhiều mang tính tất yếu phải vậy; du hành trên đại dương sẽ trở thành cực kỳ gian nan giả như không có người đốt lò cho động cơ hơi nước. Nhưng tính tất yếu loại này là ngoài ý muốn, và chúng ta phải tìm cách tránh chúng. Có việc gì đó để làm không phải điều chi đáng phàn nàn; quả vậy, cứ chín trong mười trường hợp, nó làm cho con người ta hạnh phúc hơn bao nhiêu so với hoàn toàn rãnh không. Nhưng lượng và loại công việc người ta phải làm hiện nay quả là một tội ác kinh khủng: đặc biệt tồi tệ nếu phải làm việc như vậy suốt cả đời. Cuộc sống chẳng nên nguyên tắc quá hay máy móc quá; những bản năng của chúng ta, lúc đâu mang tính hủy hoại và gây tổn hại đến ai, phải được cởi mở nếu như có thể; nên có chỗ dành cho mạo hiểm. Chúng ta sở dĩ nên tôn trọng bản tính con người là vì bản năng và dục vọng của chúng ta là những chất liệu làm nên hạnh phúc của chúng ta. Đâu lợi ích gì trao tặng con người cái gì đó trừu tượng được coi là ‘thiện’; chúng ta phải trao tặng cái gì đó họ khát khao và cần thiết nếu muốn làm họ thêm hạnh phúc. Theo thời gian, khoa học có thể học cách rèn đúc dục vọng của chúng ta để cho chúng không xung đột với nhiều dục vọng của người khác như hiện nay; nhờ đó mà chúng ta sẽ có thể thỏa mãn dục vọng của chúng ta nhiều hơn so với hiện nay. Theo ý này, và duy nhất theo ý này, những dục vọng mới trở thành ‘tốt hơn’. Một dục vọng đơn lẻ không tốt không xấu hơn, khi xét cô lập, so với bất kỳ cái nào khác; nhưng một nhóm dục vọng tốt hơn một nhóm khác nếu tất cả trong nhóm đầu có thể đều được thỏa mãn đồng thời, trong khi trong nhóm thứ hai có một số không nhất quán với một số khác. Đó là tại sao tình yêu tốt hơn thù hận. Kính cẩn trước tự nhiên là ngớ ngẩn; thế giới tự nhiên nên được nghiên cứu ngõ hầu khiến nó phục vụ những cứu cánh của con người càng nhiều càng hay, nhưng xét về đạo đức thì nó chẳng thiện chẳng ác. Và chỗ nào bản tính vật lý và bản tính con người tương tác, như trong vấn nạn dân số, thì đâu cần phải khoanh tay mà tôn sùng kiểu thụ động và chấp nhận nạn chiến tranh, bịnh dịch hạch và nạn đói kém như phương tiện duy nhất ứng phó với tình trạng sinh sản quá trớn. Thần minh nói: trong chuyện này, áp dụng khoa học cho bản tính vật lý của vấn nạn là tội lỗi; (họ nói) chúng ta phải áp dụng luân lý cho bản tính con người và thực hành kiêng khem. Ngoài sự thật mà mọi người, bao gồm cả thần minh, đều biết là chẳng ai nghe theo lời khuyên của họ, cớ tại làm sao giải quyết vấn nạn dân số bằng phương tiện vật lý để tránh thai là tội lỗi? Chẳng có câu trả lời nào trừ một câu dựa trên những giáo điều đã lỗi thời. Và rõ ràng thần minh khuyến khích vi phạm tự nhiên ít gì thì cũng nhiều biết bao như trường hợp hạn chế sinh sản. Thần minh thà vi phạm bản tính tự nhiên của con người, điều mà khi thực hiện thành công gây ra biết bao đau khổ, ghen tỵ, xu hướng bị áp chế về tinh thần, hay thường dẫn đến điên loạn. Tôi thà vi phạm bản tính vật lý vốn đồng loại như trong động cơ hơi nước hay thậm chí trong sử dụng một chiếc dù. Ví dụ này chỉ ra việc áp dụng nguyên lý bảo rằng chúng ta nên thuận theo ‘tự nhiên’ mang tính hàm hồ và không chắc chắn đến dường nào. Tự Nhiên, đến cả bản tính tự nhiên của con người, sẽ mỗi lúc một không còn là một dữ liệu tuyệt đối; càng lúc nó sẽ càng trở thành cái do khoa học tác tạo ra. Khoa học có thể, nếu nó chọn, giúp con cháu chúng ta sống cuộc đời thiện hảo, bằng cách trao tặng tri thức, đức tự chủ, và những tính cách đem lại hòa thuận thay vì phá vỡ. Hiện nay sở dĩ nó đang dạy trẻ con giết chóc lẫn nhau là vì nhiều nhà khoa học muốn hy sinh tương lai nhân loại để được tiền bạc, giàu sang. Nhưng giai đoạn này rồi sẽ qua đi khi người ta sở đắc năng lực làm chủ đam mê mãnh liệt của mình giống như năng lực làm chủ lực lượng vật lý của ngoại giới. Thế thì rồi cuối cùng chúng ta cũng giành được tự do. (hết) [III] Jereme Bentham (1748-1832): triết gia người Anh, tổ sư của chủ nghĩa duy lợi. Tính tự lợi sáng suốt: Enlightened self-interest, theo đó một người hành động giúp cho mối lợi của người khác hay nhóm khác thì kỳ cùng bản thân cũng được lợi. (N.D.). [2] May thay điều này giờ không còn đúng nữa. Tuyệt đại đa số lãnh đạo đạo Tin Lành và đạo Do Thái giờ đây không phản đối phương pháp hạn chế sinh sản. Phát biểu của Russell mô tả hoàn toàn chính xác hoàn cảnh vào năm 1925. Cũng thật ý nghĩa sao, chỉ có một hay hai ngoại lệ, tất cả những nhà tiên phong trong phương pháp tránh thụ thai- Francis Place, Richard Carlice, Charles Knowlton, Charles Bradlaugh và Margaret Sanger- đều là những nhà vô thần lỗi lạc (chú thích của người biên tập). [IV] Pontius Pilate: Quan tổng trấn Rô-ma, người đã xét xử và đóng đinh Chúa Giê-xu. (N.D.). [V] Thánh Paul (khoảng 5 TCN-khoảng 67 CN): theo sách Tông Đồ Công Vụ, ông trải qua một kinh nghiệm lạ lùng khi đang trên đường đến thành Đa-mát (Damascus). Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giê-xu và mắt ông bị mù trong một thời ngắn, và trải nghiệm này đưa ông đến với đức tin Kitô giáo. (N.D.). [VI] Percy Bysshe Shelley (1792-1822): nhà đại thi hào Lãng Mạn người Anh. (N.D.). [VII] Nhà làm thức tỉnh đức tin: Revivalist. (N.D.). [VIII] Girolamo Savonarola (1452-1498): tu sĩ dòng Đa-minh người Ý lãnh đạo thành Florence. Ông nổi tiếng vì đốt sách, phá hủy những gì ông xem là nghệ thuật vô luân lý, chống đối phong trào Phục Hưng. (N.D.). [3] Xem Icarus. |
Bài mới
- Tôi Tin Vào Điều Gì [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [2]
- GILLES DELEUZE VÀ VIỆC TIẾP NHẬN NIETZSCHE Ở PHÁP [1]
- Tôi Tin Vào Điều Gì [1]
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 5]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §75-§78]
- Bước ngoặt ngữ nghĩa học của Kant
- Tương lai của Lý luận văn học
- Phoi-ơ-bắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm [phần 4]
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.II, §69-§74]
- Về ngữ nghĩa học siêu nghiệm vượt khỏi Phê phán lý tính thuần túy
- Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết [phần 2]
- Hiện tượng
- Phê phán năng lực phán đoán [Ph.II, Ch.I, §65-§68]
- Liên tưởng (sự)









